Canada: Lá phong đỏ

Khái quát

Quốc kỳ Canada (wallpaper)

-downloadfiles-wallpapers-1920_1200-canada_flag_wallpaper_canada_world_1781.jpg

Quốc huy Canada

Coat_of_arms_of_Canada.png

Vị trí Canada

Canada_(orthographic_projection).svg.png

Bản đồ Canada

political-map-of-Canada.gif

Khẩu hiệu: A Mari Usque Ad Mare (tiếng Latin: Từ biển tới biển)

Quốc ca: O Canada

Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh và tiếng Pháp

Thủ đô: Ottawa; thành phố lớn nhất: Toronto

Diện tích: 9 984 670 km² (hạng 2)

Mật độ dân số: 3,92 người/km² (hạng 228)

Quốc khánh: 1/7/1867

Canada là Quốc gia rộng lớn thuộc Bắc Mỹ và có diện tích lớn thứ hai trên thế giới sau Nga. Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương phía đông sang Thái Bình Dương phía tây, Bắc Băng Dương và vịnh Hudson phía bắc đến biên giới với Hoa Kỳ phía nam. Về phía đông bắc Canada là đảo lớn nhất thế giới Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch. Ngoài khơi phía nam đảo Newfoundland là quần đảo Saint Pierre and Miquelon thuộc Pháp. Đường biên giới Canada và Mỹ phía nam và phía tây bắc giáp Alaska là đường biên giới giữa hai nước dài nhất thế giới. Dân cư Canada tập trung ở các thành phố lớn và các khu định cư ven biển, sông hồ. Vùng nội địa và phía bắc có dân cư thưa thớt, vùng đại quần đảo phía Bắc thuộc bang Nunavut có đa phần là đài nguyên và lãnh nguyên. Dân số xấp xỉ 35 triệu người cộng với diện tích rộng lớn khiến Canada là một trong những nước thưa dân nhất thế giới.

Trong suốt lịch sử Canada có mối quan hệ lâu dài và phức tạp với Hoa Kỳ, mối quan hệ này có tác động lớn đến kinh tế và văn hóa Quốc gia. Giống với nước Mỹ, trong suốt lịch sử Canada có lượng lớn người nhập cư đến từ nhiều nền văn hóa, khiến họ trở thành một Quốc gia đa văn hóa và đa sắc tộc. Ngày nay Canada là một trong số những Quốc gia phát triển, giàu có và có mức sống cao nhất thế giới – là tiêu biểu cho sự thành công của các thuộc địa cũ Anh Quốc.

Nhiều dân tộc bản địa đã sinh sống tại lãnh thổ là Canada ngày nay qua hàng ngàn năm. Họ đã vượt Cầu đất Bering lúc đó chưa bị chia tách để tiến vào châu Mỹ, đây cũng là nguồn gốc của tất cả các dân tộc bản địa thuộc châu Mỹ thời Tiền Columbus.

Vào đầu thế kỷ 11 người Viking Bắc Âu thay vì đến Greenland lại lạc đường do một trận bão và đến Baffin – đảo lớn nhất Canada ngày nay, người Viking vốn có thói quen đặt tên cho những vùng đất mới tìm được bằng ấn tượng đầu tiên mà họ thấy ở đó, trông thấy bờ biển đảo Baffin bằng phẳng như một khối đá duy nhất nên họ đặt tên cho vùng này là Helluland (xứ Đá Phẳng), tiếp tục xuôi về phương nam người Viking đến vùng đất ngày nay là bán đảo Labrador và đặt tên cho nó là Markland (xứ Rừng). Cuối cùng họ dừng lại và định cư ở đảo Newfoundland ngày nay – nơi có đất đai và khí hậu gần giống với quê nhà Scandinavia của họ, trông thấy vùng này có nhiều nho dại nên họ đặt tên khu định cư mới là Vinland (xứ Nho). Cái tên Vinland sau này dùng để chỉ toàn bộ châu Mỹ thời Tiền Columbus.

Cuối thế kỷ 15 Columbus tìm ra châu Mỹ, nhưng ông ta không nghĩ đây là châu lục mới mà tưởng mình đã đi nửa vòng trái đất để đến bờ đông Ấn Độ, từ đó Columbus gọi thổ dân châu Mỹ là Indian. Đầu thế kỷ 16 một thuyền trưởng người Florence là Amerigo Vespucci đi dọc bờ đông Nam Mỹ đến tận Argentina, Amerigo kết luận rằng đây phải là một châu lục mới vì Ấn Độ không thể nào dài như vậy. Một chủ xưởng in bản đồ ở Thánh chế La Mã (ngày nay thuộc Đức) là Martin Waldseemüller tưởng rằng Amerigo là người đầu tiên tìm ra lục địa Nam Mỹ nên in cái tên America lên bản đồ để chỉ Nam Mỹ, về sau cái tên này được dùng để chỉ toàn bộ châu Mỹ.

Bắt đầu từ thế kỷ 15 người Anh và Pháp đã thiết lập các cơ sở thuộc địa ven bờ biển Đại Tây Dương của Canada. Người Hà Lan đến muộn hơn và cũng nhanh chóng rút lui vì họ quan tâm đến vùng New Amsterdam (New York) phía nam hơn. Trước đó người Pháp đã đi ngược dòng Saint Lawrence tiến vào nội địa, khám phá ra Ngũ Đại Hồ và thành lập xứ thuộc địa Quebec. Người Anh cùng thời cũng kiểm soát nhiều vùng ven biển Đại Tây Dương, tiến vào vịnh Hudson và gia tăng ảnh hưởng tới các vùng còn lại phía tây đến tận bờ Thái Bình Dương. Sau nhiều cuộc xung đột khác nhau Anh giành được Quebec từ tay Pháp và xứ thuộc địa Canada trở thành thuộc địa rộng lớn nhất của đế quốc Anh. Ngày nay vùng Quebec thuộc địa cũ của Pháp vẫn là vùng có số dân nói tiếng Pháp cao và khác biệt văn hóa với các vùng còn lại, nên Quebec luôn muốn tách ra trở thành một Quốc gia độc lập.

Ngay từ khi tìm ra châu Mỹ, người châu Âu đã tò mò về “Hành lang tây bắc”, tức một tuyến đường đi vòng qua các đảo phía bắc Canada thông giữa hai đại dương mà không phải qua eo đất Panama hay cực nam châu Mỹ. Sau khi thuyền trưởng James Cook (1728-1779) đi qua eo biển Bering, ông thông báo rằng:”Hành lang tây bắc không tồn tại, ít ra là không có lối nào đi được bằng tàu buồm”, khi đó người châu Âu mới từ bỏ tìm kiếm khu vực này và xúc tiến kế hoạch xây dựng kênh đào Panama.

Việc Hoa Kỳ mua Alaska từ đế quốc Nga ngày 30/3/1867 đã tác động tới việc Liên bang hóa Canada ngày 1/7 cùng năm, nguyên nhân là do nước Anh lo ngại cường quốc mới nổi Hoa Kỳ sẽ xâm lược Canada như đã làm trước đó với Mexico. Ngày đó ba thuộc địa của Anh là Britain Columbia, North-Western Territory và Rupert’s Land trở thành bốn tỉnh của Quốc gia tự trị mới. Về sau Quốc gia tự trị sáp nhập thêm các tỉnh và lãnh thổ khác cũng là thuộc địa của Anh. Theo quy chế Westminster năm 1931, Anh trao cho Canada quyền tự trị hoàn toàn trên hầu hết các vấn đề. Canada có đóng góp lớn cho phe Đồng Minh trong hai cuộc chiến tranh thế giới, liên minh chặt chẽ với Mỹ trong Chiến tranh lạnh và là một thành viên sáng lập của NATO. Các quan hệ thuộc địa cuối cùng giữa Anh và Canada đoạn tuyệt vào năm 1982 theo Đạo luật Canada, ngoại trừ việc Canada vẫn là một Quốc gia Quân chủ lập hiến và xem Nữ hoàng Elizabeth II là Nguyên thủ Quốc gia. Ngày nay Canada vẫn liên kết chặt chẽ với Anh và Mỹ về kinh tế, văn hóa, quân sự,…

Các xứ thuộc địa Bắc Mỹ

Nouvelle-France_map-fr.svg.png

Thay đổi lãnh thổ Canada qua các thời kỳ

Canada_provinces_evolution_2.gif

Cuộc phân chia xứ Oregon giữa Anh và Mỹ lấy ranh giới là vĩ tuyến 49, giúp Canada có đường
thông ra Thái Bình Dương

Oregoncountry.png

Tên gọi Canada

Tên gọi Canada bắt nguồn từ chữ Kanata trong ngôn ngữ của người Iroquois ở lưu vực sông Saint Lawrence, nghĩa là Làng hay Khu định cư. Năm 1535 các cư dân bản địa ở khu vực ngày nay là thành phố Québec đã dùng từ này để chỉ đường cho nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier đến làng Stadacona. Sau đó Jacques dùng từ Canada không chỉ nói đến riêng ngôi làng, mà nói đến toàn bộ khu vực lệ thuộc vào Donnacona (tù trưởng tại Stadacona). Đến năm 1545, các sách vở và bản đồ châu Âu bắt đầu gọi khu vực này là Canada.

Trong thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, từ Canada dùng để nói đến phần lãnh thổ Saint Lawrence thuộc xứ Québec của Pháp. Sau khi 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ tuyên bố độc lập, Anh Quốc bắt đầu mở rộng quy mô lãnh thổ ở Canada, gây chiến với Pháp giành lấy vùng Québec. Phần lãnh thổ kéo dài từ Ngũ Đại Hồ đến sông Ohio và lãnh thổ Oregon về sau được chuyển giao cho Hoa Kỳ. Trong thời kỳ mở rộng của Hoa Kỳ, Anh Quốc vẫn kiểm soát lãnh thổ rộng lớn phía bắc vĩ tuyến 49 và phía bắc Ngũ Đại Hồ kéo dài đến vùng Alaska. Trong suốt thế kỷ 19 Canada và Australia là những thuộc địa rộng lớn nhưng hoang vắng, nên hiển nhiên là nước Anh quan tâm đến những thuộc địa đông dân và nhiều tài nguyên như Ấn Độ hơn, dẫn đến việc Canada và Australia được hưởng quyền tự trị sớm hơn các thuộc địa khác của Anh.

Quốc kỳ Canada

canada-flag-wallpapers-download

Quốc kỳ Canada còn gọi là Lá Phong (tiếng Anh: Maple Leaf, tiếng Pháp: l’Unifolié). Gồm một nền đỏ và hình vuông trắng ở trung tâm (dải trắng lớn bằng hai dải đỏ), ở trung tâm dải trắng là hình lá phong đỏ cách điệu với 11 đầu nhọn. Thiết kế này được thông qua vào năm 1965 nhằm thay thế cho lá cờ cũ mang nét thuộc địa của Anh. Ngụ ý rằng Canada là một Quốc gia độc lập hoàn toàn và xóa bỏ dấu ấn thuộc địa. Cờ lá phong như ngày nay được xem là thiết kế hoàn hảo dành cho Canada vì nó đã hoàn thành đúng yêu cầu trước đó là: Thiết kế đẹp, dễ nhận biết, thể hiện đúng lịch sử, văn hóa và tinh thần dân tộc. Những người chủ nghĩa dân tộc ở Australia và New Zealand luôn muốn có một lá cờ mới đại diện cho dân tộc thay vì lá cờ mang dấu ấn thuộc địa (cờ Vương quốc Anh ở 1/4 góc trên bên trái).

Năm 1964, Thủ tướng Lester B. Pearson thổi bùng cuộc tranh luận về việc thay đổi Quốc kỳ. Và thiết kế lá phong của George Stanley được lựa chọn, nó dựa trên hiệu kỳ của Học viện quân sự Vương thất Canada là hình lá phong đỏ với 11 đầu nhọn. Lá cờ này được thông qua ngày 15/2/1965, ngày này hằng năm là ngày Quốc kỳ Canada.

Thiết kế lá phong cũng được các cơ quan Chính phủ và lực lượng quân đội sử dụng, các thiết kế đều dùng hình ảnh lá phong đỏ với những phong cách khác nhau. Trên Quốc huy Canada và biểu tượng các bang British Columbia, Ontario và Manitoba cũng có dùng hình ảnh lá phong đỏ.

Thiết kế

600px-Canadian_flag_construction_sheet.svg

Lịch sử

Lá phong được xem là biểu tượng của Canada kể từ thập niên đầu thế kỷ 18. Người Anh và Pháp vẫn thường đề cập đến xứ Canada và New England là một nơi có mùa thu tuyệt đẹp với những tán lá phong đỏ rực. Đến năm 1868, lần đầu tiên lá phong trở thành biểu tượng Quốc gia khi nó xuất hiện trên huy hiệu hai bang là Ontario và Québec. Năm 1921 lá phong được đưa vào biểu tượng Quốc huy Canada, cũng trong năm này Quốc vương George V tuyên bố quốc sắc của Canada là đỏ và trắng lấy theo màu Thập giá Thánh George (chữ thập đỏ trên nền trắng), đỏ cũng là màu của lá phong – biểu tượng xứ Canada. Trong hai cuộc thế chiến, các huy chương của quân đội Canada đều dựa vào biểu tượng lá phong đỏ và nó được khắc lên bia mộ của các tử sĩ Canada.

Biểu tượng lá phong đỏ ngày nay của Canada được lựa chọn vì hội tụ đầy đủ các yếu tố: Dễ nhận biết, thiết kế đẹp và thể hiện đúng lịch sử, văn hóa, tinh thần dân tộc. Số lượng 11 đầu nhọn được xem là không có nhiều ý nghĩa. Nhưng có người lại cho rằng 11 đầu nhọn tượng trưng cho năm 1965 là năm thông qua lá quốc kỳ (6+5=11).

Quốc kỳ Thập giá Thánh George là hiệu kỳ đầu tiên được biết đến tại Canada, được thuyền trưởng John Cabot sử dụng khi ông đến Newfoundland năm 1497. Năm 1534, Jacques Cartier đóng một thập giá tại bán đảo Gaspé mang hiệu kỳ vương thất Pháp với biểu tượng hoa Iris (Fleur de lis). Tàu của Jacques lúc đó treo một hiệu kỳ đỏ cùng một chữ thập trắng, là quân kỳ Hải quân Pháp lúc đó. Ngày nay vùng Québec vẫn sử dụng biểu tượng Fleur de lis là biểu tượng của vương thất Pháp.

Quốc kỳ Liên hiệp được sử dụng tại Canada từ khi xuất hiện khu định cư của người Anh tại Nova Scotia năm 1621. Nó tiếp tục được sử dụng sau khi Canada độc lập về mặt lập pháp năm 1931 cho đến khi thông qua quốc kỳ hiện tại vào năm 1965.

Không lâu sau khi Liên hiệp Canada thành lập vào năm 1867, nổi lên nhu cầu về một hiệu kỳ mang đặc trưng riêng của Canada. Quốc kỳ Canada đầu tiên được sử dụng là Hiệu kỳ của Toàn quyền Canada, một quốc kỳ Liên hiệp với phù hiệu ở giữa hình các huy hiệu của Ontario, Québec, Nova Scotia và New Brunswick, bao quanh là một vòng lá phong. 

Đến thập niên 1960, tranh luận về quốc kỳ Canada nổi cộm và trở thành một chủ đề luận chiến, cực điểm là Đại tranh luận Quốc kỳ năm 1964. Năm 1963, chính phủ tự do thiểu số của Lester B.Pearson lên nắm quyền và quyết định thông qua một quốc kỳ  mới bất chấp những tranh luận trong quốc hội. Người đề xuất việc này là Thủ tướng Pearson, ông từng là một nhà điều đình quan trọng trong Khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956, nhờ đó mà ông đoạt giải Nobel hòa bình. Trong cuộc khủng hoảng, Pearson bối rối khi chính phủ Ai Cập phản đối lực lượng gìn giữ hòa bình Canada với lý do là quốc kỳ Canada có cùng biểu tượng (quốc kỳ Vương quốc Anh) cũng được Anh Quốc sử dụng làm quốc kỳ, trong khi Anh Quốc là một bên tham chiến. Mục tiêu của Pearson là khiến quốc kỳ Canada là đặc trưng và không thể nhầm lẫn.

Sau một thời gian nghiên cứu cùng vận động chính trị, ủy ban đã lựa chọn thiết kế hiện nay, thiết kế này do George Stanley thiết kế và lấy cảm hứng từ hiệu kỳ của Học viện Quân sự Vương thất Canada (RMC) tại Kingston, bang Ontario. Đa số phiếu trong Hạ viện thông qua thiết kế này vào ngày 15/12/1964. Thượng viện Canada thông qua thiết kế hai ngày sau đó.

Nữ hoàng Anh Elizabeth II chính thức công bố quốc kỳ mới vào ngày 28/1 năm 1965, nó được bắt đầu sử dụng từ ngày 15/2 cùng năm sau một buổi lễ chính thức tại Parliament Hill ở Ottawa, với sự hiện diện của Toàn quyền Georges Vanier, Thủ tướng, các thành viên khác trong nội các và nghị viện Canada. Chủ tịch Thượng viện Maurige Bourget nói rằng quốc kỳ là biểu tượng cho sự thống nhất của quốc gia, đại diện cho toàn bộ các công dân Canada bất kể chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, đức tin hay quan điểm. Trong lễ kỷ niệm 100 năm lập quốc vào năm 1967, chính phủ Canada sử dụng một quốc kỳ mang huy hiệu Vương thất Canada (phù hiệu được sử dụng thời thuộc địa) trên một nền đỏ.

1868-1921

Canadian_Red_Ensign_1868-1921.svg.png

1921-1957

Canadian_Red_Ensign_1921-1957.svg

1957-1965

Canadian_Red_Ensign_(1957-1965).svg.png

Lá cờ đề xuất năm 1946

1946_Canadian_flag_proposal.svg.png

 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Canada

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Canada

https://en.wikipedia.org/wiki/Maple_leaf

https://en.wikipedia.org/wiki/Maple_tree

https://en.wikipedia.org/wiki/Suez_Crisis

https://en.wikipedia.org/wiki/James_Cook

https://en.wikipedia.org/wiki/New_France

https://en.wikipedia.org/wiki/Thirteen_Colonies

https://vi.wikipedia.org/wiki/X%E1%BB%A9_Oregon

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Oregon

Advertisements