( 대한민국 ) Hàn Quốc: Thái cực đồ

Khái quát

Quốc kỳ Hàn Quốc (wallpaper)

south-korea-flag.jpg

Quốc huy Hàn Quốc

Emblem_of_South_Korea.svg.png

Dấu triện Chính phủ Hàn Quốc

emblem_of_the_government_of_the_republic_of_korea-svg

Vị trí Hàn Quốc

541px-South_Korea_(orthographic_projection).svg.png

Bản đồ Hàn Quốc

political-map-of-south-kore

Tên đầy đủ: 대한민국 / 大韓民國 (Đại Hàn Dân Quốc)

Khẩu hiệu: 홍익인간  (Hoằng ích nhân gian)

Quốc ca: 애국가 (Aegukga – Ái Quốc ca)

Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Hàn (한국어)

Thủ đô và thành phố lớn nhất: Seoul (서울), thành phố lớn thứ 2: Busan (부산)

Diện tích: 100 140 km² (hạng 108)

Mật độ dân số: 505,1 người/km² (hạng 13)

Quốc khánh: 3/10/1952

Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Hàn: 대한민국 – Daehan Minguk) thường gọi là Hàn Quốc (한국 – Hanguk) là một Quốc gia thuộc Đông Á nằm ở nửa phía nam bán đảo Triều Tiên. Phía bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía tây giáp biển Hoàng Hải và phía đông giáp biển Nhật Bản (Hàn Quốc gọi là Đông Hải – Eastern Sea). Thủ đô và thành phố lớn nhất là Seoul, thành phố lớn thứ hai và cảng lớn nhất là Busan. Thủ đô Seoul là vùng đô thị lớn thứ tư trên thế giới và là một thành phố toàn cầu quan trọng. Lãnh thổ Hàn Quốc có địa hình chủ yếu là đồi núi và đa phần có khí hậu ôn đới với bốn mùa rõ rệt. Không tính những Quốc gia có diện tích quá nhỏ thì Hàn Quốc là nước có mật độ dân số cao thứ ba, sau Bangladesh và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Hàn Quốc hiện là một Quốc gia dân chủ toàn diện theo chế độ Cộng hòa Tổng thống bao gồm 16 khu hành chính. Là nước có nền kinh tế phát triển và có mức sống cao. Hàn Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ 15 thế giới và thứ tư châu Á (sau Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ) và là một trong bốn Con hổ châu Á cùng với Đài Loan, Hongkong và Singapore. Hàn Quốc đã tăng cường sự phổ biến văn hóa của mình đặc biệt là tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á; đó là Kpop, trang phục truyền thống Hanbok, món ăn truyền thống Kim chi, nghệ thuật thứ 7 (phim truyền hình và điện ảnh), được gọi chung là Hallyu hay Làn sóng Hàn Quốc.

Chiến tranh Triều Tiên (한국전쟁)

Từ khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) Hàn Quốc luôn chi tiêu mạnh cho quân sự và quốc phòng. Rút kinh nghiệm từ trường hợp Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Hàn Quốc trích ra nhiều ngân sách nhằm giữ chân quân đội Mỹ ở lại, ngăn chặn miền bắc “tiến về Seoul”. Trong khi đó chính quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở miền bắc luôn coi mục tiêu thống nhất đất nước là nhiệm vụ cao cả của dân tộc và họ cũng chi tiêu rất nhiều cho quân sự đến mức gần như là Quân phiệt. Trên thực tế thì Bắc Triều Tiên giống một Quốc gia độc tài và sùng bái cá nhân của nhà họ Kim hơn là một nước Cộng sản. Triều Tiên không nhún nhường kể cả trước những đồng minh lâu năm như Trung Quốc, về mặt này thì hai miền lại có cùng một quan điểm, đó là bảo vệ những vùng đất được tạo nên bởi xương máu ông cha tổ tiên, đây là một tia hy vọng nhỏ cho nguyện vọng thống nhất một cách hòa bình sau này (tương tự như nước Đức).

Tuy nhiên nếu điều đã xảy ra ở Đức xảy ra ở Hàn Quốc thì hệ lụy đầu tiên ai cũng nhận ra đó là mức sống và các cơ sở vật chất của miền bắc sẽ lạc hậu hơn miền nam, và người miền bắc sẽ tràn vào nam tìm kiếm việc làm và công việc ổn định, khi đó tuy biết là cùng một dân tộc nhưng người miền nam sẽ không thể không cảm thấy khó chịu với lượng người nhập cư này. Sẽ có rất ít người miền nam chịu ra bắc trừ khi chính quyền mới tái thiết cơ sở hạ tầng miền bắc, giảm thuế và xây dựng nhiều khu vực đô thị mới nơi có những công việc hấp dẫn.

Sau cái chết của Josheph Stalin ngày 5/3/1953, người kế nhiệm Nikita Khrushchyov có tư tưởng ôn hòa hơn nên đã không nỗ lực đổ quân vào bán đảo Triều Tiên như Trung Quốc đã làm. Ngày 27/7/1953 Hiệp định ngừng bắn được ký kết nhưng không có Hiệp định hòa bình, nên các cuộc đụng độ lẻ tẻ thỉnh thoảng vẫn diễn ra và miền bắc có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Điều đó khiến tình báo và trinh sát Hàn Quốc vô cùng cảnh giác trước mọi động tĩnh của miền bắc và nam giới Hàn Quốc phải tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc không có ngoại lệ (chỉ trừ trường hợp bệnh tình quá nặng hoặc không thể di chuyển).

Tên gọi chiến tranh Triều Tiên chỉ thực sự phổ biến ở nước ngoài, ở Hàn Quốc nó thường được gọi là Chiến tranh ngày 25 tháng 6 theo ngày bắt đầu cuộc chiến; ở Bắc Triều Tiên là Chiến tranh giải phóng tổ quốc. Cuộc chiến này thường được gọi là “Cuộc chiến bị lãng quên”, một phần là vì thua kém về mặt quy mô so với thế chiến thứ hai diễn ra trước đó và chiến tranh Việt Nam diễn ra sau đó.

Khái quát lịch sử Hàn Quốc

 

https://www.youtube.com/channel/UCNjCmUDirLIsGkGkkHt3wWQ

 

 

 

https://www.youtube.com/user/DatKoreanNerd

 

https://www.youtube.com/channel/UCcEPmwpXKrKzZahqjwpIAsQ

Tên gọi Hàn Quốc

Tên gọi chung chỉ khu vực bán đảo Triều Tiên trong các ngôn ngữ phương tây (tiếng Anh: Korea, tiếng Pháp: Corée, tiếng Nga: Корея) bắt nguồn từ tên gọi Vương quốc Cao Ly (Goryeo), một nhà nước lớn mạnh tồn tại trên bán đảo Triều Tiên từ năm 918 đến năm 1392. Tên gọi Goryeo đã sớm được các thương nhân Arab truyền bá đến phương tây, hoặc bằng đường biển vòng qua bán đảo Malacca hoặc bằng đường bộ xuyên qua đại lục châu Á (con đường tơ lụa).

Vào năm 1392, toàn bộ bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Chosun dynasty), do đó cái tên Triều Tiên được nhà Minh Trung Hoa dùng để chỉ toàn bộ dân tộc sống trên bán đảo này. Sau khi hai miền chia cắt, lãnh thổ theo Xã hội chủ nghĩa phía bắc vẫn tự gọi mình như cũ là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Korea Democratic People’s Republic), trong khi lãnh thổ miền nam tự gọi mình theo tên gọi mới là Đại Hàn Dân Quốc (Korea Republic).

Từ Dân Quốc (tiếng Hán: 民國) trong Đại Hàn Dân Quốc (大韓民國) là dịch từ ngôn ngữ phương tây sang tiếng Hán để chỉ Nước Cộng hòa (共和國), trong tiếng Anh là Republic – Cộng hòa.

Tên gọi của Hàn Quốc khá phức tạp. Ở Hàn Quốc luôn được gọi là 대한민국 (Đại Hàn Dân Quốc) hoặc 한국 (Hàn Quốc). Ở phương tây là Korea Republic (Cộng hòa Hàn Quốc) hoặc South Korea (Nam Triều Tiên). Ở Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa thường gọi là Nam Hàn hoặc Cộng hòa Triều Tiên; ngày 23/3/1994 trong Công hàm gửi bộ Ngoại giao Việt Nam phía Hàn Quốc đã đề nghị phía Việt Nam đổi các tên gọi Cộng hòa Triều Tiên, Nam Triều Tiên hoặc Nam Hàn thành một tên gọi thống nhất là Hàn Quốc. Trung Quốc và Nhật Bản cũng gọi là Hàn Quốc, trùng tên với nước Hàn thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc nhưng từ “Hàn” ở đây không có nghĩa là lạnh mà là ký âm tự của từ Han trong tiếng Hàn Quốc nghĩa là rộng lớn, vĩ đại.

Quốc kỳ Hàn Quốc

8e09abe1140884c58bacc4bdbd2e1be6.jpg

Quốc kỳ Hàn Quốc được gọi là 태극기 (Taegeukgi – Thái cực kỳ). Gồm một nền trắng, một Taegeuk (Thái cực) ở trung tâm với màu đỏ phía trên và xanh dương phía dưới, cùng với 4 quẻ Bát quái xếp vòng tròn xung quanh Thái cực:

  • 140px-palgwae_geon-svg Càn (건), tượng trưng cho Bầu trời (천), mùa xuân (춘), phương đông (동), Nhân (인) trong Tứ đức, người cha (부) trong gia đình và Thiên (천) trong Tứ đại.
  • 140px-palgwae_ri-svg Ly (리), tượng trưng cho Mặt trời (일), mùa thu (추), phương nam (남), Nghĩa (의) trong Tứ đức, người con gái (녀) trong gia đình và Hỏa (화) trong Tứ đại.
  • 140px-palgwae_gam-svg Khảm (감), tượng trưng cho Mặt trăng (월), mùa đông (동), phương bắc (북), Trí (지) trong Tứ đức, người con trai (자) trong gia đình và Thủy (수) trong Tứ đại.
  • 140px-palgwae_gon-svg Khôn (곤), tượng trưng cho Đất (지), mùa hè (하), phương tây (서), Lễ (예) trong Tứ đức, người mẹ (모) trong gia đình và Thổ (토) trong Tứ đại.

Thiết kế

1000px-flag_of_south_korea_construction_sheet-svg

Nền trắng tượng trưng cho “Sự trong sạch, tinh khiết và khát khao hòa bình của dân tộc”. Ngoài ra đây còn là màu truyền thống của văn hóa Hàn Quốc và là màu phổ biến trên trang phục thường ngày của người Hàn trong gần suốt chiều dài lịch sử. Thái cực đồ được xem là nguồn gốc vạn vật trong Vũ trụ, giữ cho hai nguyên tắc Âm và Dương trong một sự cân bằng hoàn hảo. Khía cạnh Âm, ban đêm và tiêu cực là xanh dương; khía cạnh Dương, ban ngày và tích cực là đỏ. Các Bát quái cũng tượng trưng cho sự cân bằng và hài hòa; nó cũng thể hiện truyền thống Khổng giáo mạnh mẽ ở Hàn Quốc – đề cao gia đình và các phép tắc tôn ti trật tự. Người Hàn rất coi trọng gia đình và quan hệ giữa các thành viên trong dòng tộc, nên các Tập đoàn gia đình là đặc sản của xứ Kim chi.

Sắc độ các màu sắc là đỏ (Pantone 186C), xanh dương (Pantone 294C), trắng và đen là màu gốc ko cần bổ sung.

Taegeuk

Taegeuk (태극) là vòng tròn âm dương của các triều đại trên bán đảo Triều Tiên, khác với các vòng tròn âm dương ở Trung Hoa thường có màu trắng – đen, Taegeuk có đa dạng màu sắc hơn và thường chia thành ba hay nhiều vòng xoắn lồng vào nhau chứ không chỉ hai vòng, nó thường được vẽ lên mặt trống trong các lễ hội và các trận chiến.

Biểu tượng Taegeuk gồm hai vòng xoắn vào nhau màu đỏ và xanh dương được lựa chọn để trở thành thiết kế Thái cực đồ trên Quốc kỳ Hàn Quốc vào năm 1880, thường được gọi là 태극기 (Taegeukgi – Thái cực kỳ). Trên thực tế việc kết hợp hai màu đỏ và xanh dương đã có từ rất lâu từ thời kỳ Cao Ly, khi đó ngoài việc tượng trưng cho âm dương và các tư tưởng truyền thống khác nó còn tượng trưng cho đất liền và biển cả, Trung Hoa (đỏ) và Nhật Bản (xanh dương), một phần vì từ lâu bán đảo Triều Tiên đã đóng vai trò là cầu nối giữa Nhật Bản và Trung Hoa. Biểu tượng Taegeuk thường kết hợp và được xem là tượng trưng cho các quan niệm truyền thống trên bán đảo Triều Tiên như Đạo giáo Hàn Quốc.

Taeguk trên Quốc kỳ Hàn Quốc

300px-taegeuk-svg

Vòng tròn âm dương và Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài)

430px-pakua-svg

Lịch sử Taegeuk

Taegeuk đã là biểu tượng phổ biến ở Hàn Quốc trong phần lớn chiều dài lịch sử. Nguồn gốc của việc bỏ hai chấm trắng đen và chia thành hai phần màu đỏ và xanh dương đã bắt nguồn từ triều đại Goryeo (Cao Ly) hoặc thời kỳ Silla, khi đó nó thường được trang trí trong mộ phần của những bậc Đế vương, quý tộc hoặc những người có chức tước. Vào thời kỳ Joseon, Taegeuk được sử dụng để đại diện cho tư tưởng của Đạo giáo Hàn Quốc, tượng trưng cho sự hài hòa của đất trời, ngày đêm và âm dương.

Taegeuk ba màu

Một biến thể phổ biến ở Hàn Quốc là Taegeuk ba màu (có thêm màu vàng), màu vàng được xem là tượng trưng cho con người, nhân loại cùng với đỏ và xanh dương là đất và trời. Taegeuk ba màu thể hiện một câu nói quen thuộc của người Á Đông – Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa.

Thiết kế đã không được lựa chọn, gồm một Taegeuk ba màu và Bát quái xếp vòng tròn
xung quanh

800px-samtaegeuk_with_fu_hsis_8_trigrams-svg

Họa tiết Taegeuk trên quạt tay truyền thống Hàn Quốc

samtaegeukfan

Taegeuk trên cổng một ngôi đền ở Naju

Taegeuk_in_Naju_Hyanggyo.jpg

Biểu tượng Paralympic

Biểu tượng đầu tiên của Paralympic (Thế vận hội dành cho người khuyết tật) được tạo ra vào Paralympic Seoul diễn ra vào mùa hè năm 1988. Biểu tượng này dựa vào Taegeuk là biểu tượng truyền thống của Hàn Quốc, tượng trưng cho phương châm “Tôi di chuyển” và luôn tiến về phía trước. Lá cờ đầu tiên của Paralympic sử dụng 5 vòng xoắn với sắp xếp trên nền trắng giống với cờ Olympic nhưng chúng không lồng vào nhau. Cờ Paralympic từ 1991 đến 2004 có hai lần thay đổi, những biểu tượng được sử dụng vẫn dựa vào thiết kế Taegeuk trên lá cờ đầu tiên năm 1988.

Biểu tượng Paralympic từ 2004 đến nay

864px-ipc_logo_2004-svg

Lá cờ đầu tiên của Paralympic năm 1988

600px-paralympics_logo_1988-94-svg

Cờ Paralympic trong 10 năm từ 1994 - 2004

2000px-ipc_logo_1994-2004-svg

Lịch sử Quốc kỳ Hàn Quốc

Việc thiếu một lá cờ chung đại diện cho Quốc gia trở thành một vấn đề vào thập niên 70 của thế kỷ 19. Trong thời kỳ Joseon (1392-1897) trước năm 1876, không có cờ Quốc gia mà chỉ có hiệu kỳ của các triều đại và một lá cờ chung của Quốc gia được xem là không cần thiết, đây cũng là thực trạng chung của các nước Đông Á vào thế kỷ 19 khi mà ở Đông Á chưa hình thành ý niệm dân tộc mà chỉ có ý niệm Quốc gia, tức lòng trung thành của một vùng đất đặt vào các Vương triều chứ không đặt vào thần dân của nó. Các quốc gia Đông Á đón nhận dân chủ chậm hơn so với phương tây, một phần là vì họ sống trong thời kỳ Phong kiến quá lâu nơi mà lòng tôn sùng chỉ hướng đến các Vương triều chứ không hướng đến nhân dân, Hoàng gia và Quý tộc chỉ xây dựng các cơ sở hạ tầng như một “sự ban ơn” để giúp cuộc sống nhân dân trở nên tốt đẹp hơn. Về sau khi không còn chế độ Quân chủ chuyên chế, ý niệm Quốc gia ở Đông Á cũng không còn mà thay vào đó là ý niệm dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc ở Đông Á rất cao, tiêu biểu như Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và cờ Hải quân Nhật Bản ngày nay vẫn giống hệt thời kỳ đế quốc Nhật trong khi lá cờ Svastika của Đức Quốc xã lại bị cấm đoán. Người Đông Á cũng không ghét Hitler và Đức Quốc xã như nhiều người phương tây, đó là vì Đức Quốc xã không gây chiến tranh ở Đông Á và chủ nghĩa dân tộc ở Á Đông cũng rất cao. Ngày nay những nơi ít có ý niệm dân tộc mà chỉ có ý niệm Quốc gia có thể kể đến như các nước châu Phi hạ Sahara, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Đại Dương và thế giới Arab.

Vào năm 1876, vấn đề Quốc kỳ Hàn Quốc bắt đầu nảy sinh và trở nên đặc biệt nổi cộm trong cuộc Đàm phán Nhật Bản – Hàn Quốc, các Đại biểu của đế quốc Nhật Bản mang theo lá cờ Nhật Bản trong khi phía triều đại Joseon không có và không thể mang theo một lá cờ nào. Ngay lập tức đã có những ý kiến về việc thiết lập một lá cờ đại diện Quốc gia nhưng giới cầm quyền Joseon lại xem là không quan trọng. Năm 1880, việc gia tăng các cuộc đàm phán với ngoại quốc nhằm đảm bảo độc lập cha dân tộc khiến chính quyền buộc phải thông qua một lá cờ Quốc gia. Rất nhiều thiết kế trong thời kỳ này đã được mô tả bởi các phái đoàn đến từ nhà Thanh Trung Hoa. Nhà Thanh còn đề xuất rằng phía Joseon nên kết hợp cờ Đại Thanh với các biểu tượng truyền thống của bán đảo Triều Tiên để tạo ra Quốc kỳ mới và cũng thể hiện sự tuân phục. Đáp lại đề xuất này, chính quyền Joseon đồng ý với một số yêu cầu nhưng cho rằng nên có nhiều chi tiết khác để tạo ra sự khác biệt. Vào thời kỳ này nhà Thanh đã suy yếu, Nhật Bản thì không ngừng lớn mạnh và luôn lăm le xâm lược bán đảo Triều Tiên, nhà Joseon chỉ còn biết dựa vào nhà Thanh suy tàn, đế quốc Nga hoặc các nước phương tây xa xôi để giữ lấy chủ quyền.

Năm 1882, Hiệp ước Hoa Kỳ – Hàn Quốc được ký kết, tranh cãi lại nảy sinh khi trong Hội trường sử dụng cờ Nhật Bản thay cho Hàn Quốc. Giới chức Joseon loại bỏ ý tưởng kết hợp cờ Đại Thanh với các biểu tượng truyền thống của dân tộc vì nhà Joseon không còn muốn lệ thuộc vào nhà Thanh mà thay vào đó là phương tây, cụ thể là đế quốc Nga ở phương bắc và hiện cũng có Hải quân đóng tại Lữ Thuận.

Lá cờ đầu tiên đại diện cho Hàn Quốc ra đời năm 1882 với một nền trắng, một vòng tròn âm dương màu đỏ – đen chính giữa và 8 quẻ Bát quái xếp vòng tròn xung quanh. Ngày 22/8/1882, Park Yeong Hyo thiết kế lá cờ với biểu tượng Taegeuk và 4 quẻ Bát quái cho Hoàng gia Joseon, lá cờ của Park Yeong Hyo trở thành hiệu kỳ đầu tiên sử dụng Taegeuk trong lịch sử Hàn Quốc. Ngày 27/1/1883, chính quyền Joseon quyết định thiết kế này là lá cờ chính thức đại diện cho Quốc gia.

Từ năm 1883 đến trước chiến tranh Triều Tiên, tất cả những lá cờ đại diện cho vùng bán đảo Triều Tiên đều dựa vào thiết kế của Park Yeong Hyo, nên đây chắc chắn là lá cờ đại diện cho dân tộc chứ không phải lá cờ mang hơi hướng Cộng sản của Bắc Triều Tiên. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1910-1945), đế quốc Nhật áp dụng lá cờ Hinomaru lên tất cả thuộc địa của mình và cờ Taegeuk chỉ được hiển thị một cách âm thầm, người Hàn xem thời kỳ Nhật chiếm đóng là thời kỳ đen tối nhất lịch sử và đến tận ngày nay nhiều người Hàn vẫn gọi người Nhật là “giặc Oa”. Các cuộc biểu tình, khởi nghĩa trong thời kỳ này đều sử dụng lá cờ Taegeuk nên sau khi giành được độc lập năm 1945, cờ Taegeuk được thông qua để trở thành lá cờ chính thức của dân tộc như một lẽ đương nhiên. Nếu chỉ tính ở lãnh thổ miền nam tức Hàn Quốc ngày nay thì thiết kế này chính thức được thông qua ngày 15/10/1949, các tỉ lệ hình học và sắc độ hoàn chỉnh ra đời vào tháng 10/1997 theo sắc lệnh của Tổng thống.

Cờ Hoàng gia của triều đại Goryeo (918-1392)

Royal_flag_of_Goryeo_(Bong-gi).svg.png

Cờ Hoàng gia của triều đại Joseon (1392-1897)

706px-Flag_of_the_king_of_Joseon.svg.png

Quân kỳ triều đại Joseon

ensign_of_the_joseon_navy

Lá cờ được thiết bởi Park Yeong Hyo

Flag_of_Korea_1888.svg.png

Lá cờ được thông qua năm 1883

flag_of_korea_1893-svg

Cờ đế chế Hàn Quốc sau khi Joseon sụp đổ đến khi Nhật chiếm đóng (1897-1010)

flag_of_korea_1899-svg

Cờ chính phủ lâm thời Hàn Quốc trong thời kỳ Nhật chiếm đóng (1919-1945)

flag_of_the_provisional_government_of_the_republic_of_korea-svg

Lá cờ được thông qua sau khi giành độc lập năm (1945-1948)

flag_of_south_korea_1945-1948-svg

 Lá cờ được sử dụng từ tháng 10/1949 đến tháng 10/1997

flag_of_south_korea_1984-1997-svg

Cờ Hải quân Hàn Quốc

600px-naval_jack_of_south_korea-svg

Lá cờ ngày nay, ra đời năm 1997

flag_of_south_korea-svg

Cờ Triều Tiên Thống nhất, được sử dụng khi Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc tham gia chung
một đội trong các sự kiện thể thao. Nếu trong tương lai hai miền thống nhất thì lá cờ
này có thể sẽ được sử dụng

unification_flag_of_korea-svg

https://ko.wikipedia.org/wiki/%EB%8C%80%ED%95%9C%EB%AF%BC%EA%B5%AD%EC%9D%98_%EA%B5%AD%EA%B8%B0

https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c

https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_k%E1%BB%B3_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_South_Korea

https://en.wikipedia.org/wiki/Korean_Peninsula

https://en.wikipedia.org/wiki/Taegeuk

https://en.wikipedia.org/wiki/Paralympic_symbols

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Korean_flags

https://en.wikipedia.org/wiki/Korean_Unification_Flag

Advertisements