( Schweiz ) Thụy Sĩ: Ba bang vùng rừng

Khái quát

Quốc kỳ Thụy Sĩ bản hình chữ nhật (wallpaper)

81871

Quốc huy Thụy Sĩ

switzerland

Vị trí Thụy Sĩ

Europe-Switzerland.svg.png

Bản đồ Thụy Sĩ

political-map-of-Switzerlan.gif

Tên đầy đủ: Liên bang Thụy Sĩ

Khẩu hiệu: Unus pro omnibus, omnes pro uno (tiếng Latin: Một người vì mọi người, mọi người vì một người)

Quốc ca: Thánh ca Thụy Sĩ, Schweizerpsalm (tiếng Đức), Salmo svizzero (tiếng Italy), Cantique suisse (tiếng Pháp), Psalm svizzer (tiếng Romansh)

Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức, tiếng Italy, tiếng Pháp, tiếng Romansh

Thủ đô: Bern; thành phố lớn nhất: Zürich

Diện tích: 41 285 km² (hạng 132)

Mật độ dân số: 202 người/km² (hạng 63)

Quốc khánh: 12/9/1848

Thụy Sĩ, tên chính thức là Liên bang Thụy Sĩ, là một Quốc gia cộng hòa liên bang tại châu Âu. Thụy Sĩ gồm 26 bang và bán bang, thành phố Bern là nơi đặt trụ sở nhà đương cục liên bang. Quốc gia Thụy Sĩ nằm tại Trung – Tây Âu và có biên giới với Italy phía nam, Pháp phía tây, Đức phía bắc, Áo và Liechtenstein phía đông. Thụy Sĩ là quốc gia không giáp biển, về địa lý bao gồm dãy núi Alpes, cao nguyên Thụy Sĩ và dãy Jura. Mặc dù dãy Alpes chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ quốc gia, song khoảng tám triệu dân Thụy Sĩ hầu hết tập trung tại khu vực cao nguyên. Các thành phố lớn nhất đều nằm tại vùng cao nguyên, trong đó có hai thành phố toàn cầu và trung tâm kinh tế thế giới là Zürich và Genève.

Mốc thành lập Liên bang Thụy Sĩ cũ là vào thời Trung Cổ, là kết quả từ một loạt thắng lợi quân sự chống lại gia tộc Habsburg của Áo và Burgundy. Thụy Sĩ được chính thức được công nhận độc lập theo Hòa ước Westfalen năm 1648 và bắt đầu có truyền thống trung lập về quân sự từ thời kỳ Cải cách Tin Lành, quốc gia Thụy Sĩ không nằm trong tình trạng chiến tranh trên bình diện quốc tế từ năm 1815 đến nay và không gia nhập Liên Hợp Quốc cho tới tận năm 2002. Tuy nhiên, Thụy Sĩ theo đuổi chính sách đối ngoại tích cực và thường xuyên tham gia vào các tiến trình kiến tạo hòa bình trên toàn cầu. Thụy Sĩ là nơi khai sinh của tổ chức Chữ thập đỏ, là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có trụ sở lớn thứ hai của Liên Hợp Quốc (chỉ sau trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York). Ở châu Âu, Thụy Sĩ tuy không phải là thành viên của Liên minh châu Âu và Khu vực kinh tế châu Âu, nhưng có tham gia Khu vực Schengen và Thị trường chung châu Âu thông qua các hiệp định thương mại song phương.

Thụy Sĩ nằm tại nơi giao nhau của châu Âu German và châu Âu Latin, gồm bốn khu vực ngôn ngữ và văn hóa là Đức, Pháp, Italy và Romansh. Đa số người Thụy Sĩ nói tiếng Đức, song bản sắc dân tộc Thụy Sĩ bắt nguồn từ một bối cảnh lịch sử chung, chia sẻ các giá trị chung như chủ nghĩa liên bang, chế độ dân chủ trực tiếp và chủ nghĩa tượng trưng Alpes. Do đa dạng về ngôn ngữ, Thụy Sĩ có nhiều tên gọi khác nhau trên cùng một đất nước: Schweiz (tiếng Đức), Suisse (tiếng Pháp); Svizzera (tiếng Italy), Svizra (tiếng Romansh), Switzerland (tiếng Anh). Trên tiền và tem bưu chính, tên gọi trong tiếng Latin (thường được rút ngắn thành “Helvetia”) được sử dụng chung thay vì dùng bốn ngôn ngữ chính thức. Người Thụy Sĩ cũng coi tiếng Latin là ngôn ngữ chung của quốc gia tuy rằng nó không mấy phổ biến. Do ở Thụy Sĩ tiếng Đức là phổ biến nhất nên bài viết này dùng tiêu đề Schweiz.

Phân bố ngôn ngữ ở Thụy Sĩ

Karte_Schweizer_Sprachgebiete_2017.png

Mật độ dân số Thụy Sĩ

Bevölkerungsdichte_der_Schweiz_2016.png

Trong khi nước Đức láng giềng trải qua nhiều thể chế, thăng trầm và quốc kỳ thay đổi
nhiều lần, thì Liên bang Thụy Sĩ không thay đổi từ 1815 đến nay :)))

472a67d6f762de3ac8e879c48f33e87b25f7e4617663295feb9c633c9ff245bf_1

Quốc kỳ Thụy Sĩ

Flag-Of-Switzerland.jpg

Quốc kỳ Thụy Sĩ gồm một nền đỏ và hình chữ thập (hoặc dấu cộng) trắng ở trung tâm. Là một trong hai quốc gia sử dụng quốc kỳ hình vuông (cùng với Vatican). Quốc kỳ chính thức của Thụy Sĩ có hình vuông nhưng ở nước ngoài lá cờ biến thể hình chữ nhật (giống với hầu hết các nước khác) thường được sử dụng hơn. Lá cờ hình vuông chỉ thực sự phổ biến ở Thụy Sĩ và các nước lân cận. Các tỉ lệ hình học và sắc độ chính xác của màu đỏ được thiết lập từ năm 1889 (sắc độ màu đỏ là Pantone 032C).

Thiết kế chữ thập trắng trên nền đỏ bắt đầu được sử dụng bởi Liên minh Thụy Sĩ cũ từ đầu thế kỷ 14. Khi đó nhân dân vùng Waldstätte – ba bang vùng rừng (Schwyz, Uri và Unterwalden) nổi dậy đánh bại gia tộc Habsburg trong trận Morgaten năm 1315. Schwyz là bang lớn mạnh nhất nên tên gọi của họ trở thành tên của toàn liên bang, đó là nguồn gốc của tên gọi Schweiz trong tiếng Đức, biểu tượng của Schwyz là hình chữ thập trắng trên nền đỏ ở góc trên bên phải.

Thiết kế chữ thập trắng trên hình vuông màu đỏ ra đời trong thời kỳ chiến tranh Napoléon, khi đó Thụy Sĩ là Cộng hòa Helvetic – một nhà nước bù nhìn do Pháp dựng lên. Lá cờ được sử dụng lần đầu vào năm 1800 bởi Niklaus Franz von Bachmann – một tướng Thụy Sĩ tham chiến chống Napoléon và khôi phục tổ quốc. Lá cờ chính thức trở thành Quốc kỳ vào ngày 12/12/1889.

Quốc huy Thụy Sĩ

switzerland

Quốc huy Thụy Sĩ trông gần giống Quốc kỳ, gồm một chữ thập trắng trên tấm khiên (hoặc lá chắn) màu đỏ. Nguồn gốc của quốc huy giống hệt với quốc kỳ, cùng được công nhận ngày 12/12/1889. So với quốc kỳ Thụy Sĩ, quốc huy được hiển thị trên nhiều mặt hàng hơn, như là các mặt hàng có nguồn gốc từ Thụy Sĩ, đồng Franc Thụy Sĩ, biển số xe, đồng hồ Thụy Sĩ.

Lịch sử

Trận đánh khai quốc

Từ năm 1289, vùng thung lũng miền trung Thụy Sĩ thường được nhắc đến như “vùng đất có nhiều đồi núi và cây cối” trong các tài liệu bằng tiếng Đức. Sau khi liên bang Thụy Sĩ thành lập năm 1300 và đánh bại nhà Habsburg năm 1315, đế chế La Mã Thần Thánh thường gọi vùng này là Waldstätte – các bang vùng rừng, hoặc chi tiết hơn là “ba bang vùng rừng”.

Liên bang Thụy Sĩ cũ, khởi đầu là ba bang vùng rừng là một liên minh giữa các cộng đồng dân cư tại thung lũng miền trung dãy Alpes. Hiến chương liên bang năm 1291 nhận được sự đồng thuận của các công xã nông thôn (Schwyz, Uri và Unterwalden). Đây được xem là văn kiện hình thành liên bang, mặc dù các liên bang tương tự có vẻ đã tồn tại nhiều năm trước đó. Ba bang vùng rừng tuy nằm ở một vùng hẻo lánh nhưng lại án ngữ tuyến đường độc đạo vượt dãy Alpes dẫn sang đất Italy, đó là nguyên nhân khiến nó nhận được sự quan tâm của Thánh chế La Mã. La Mã Thần Thánh công nhận sự độc lập của liên bang, nhằm đảm bảo tuyến đường vượt núi thông suốt và tránh việc vùng này rơi vào tay đối thủ khác.

Sự mở rộng của Liên bang Thụy Sĩ cũ

old_swiss_confederation

Hiến chương Liên bang năm 1291

1024px-bundesbrief

Đầu thế kỷ 14, nhà Habsburg rất thèm muốn vùng đèo Gotthard trên dãy núi Alpes. Nhưng tại đây, ba tiểu quốc Uri, Schwyz và Unterwalden đã lập thành liên bang vào năm 1300 và được ban quyền tự trị. Khi hoàng đế Thánh chế La Mã Heinrich VII qua đời tháng 8 năm 1413, hai ứng viên tiềm năng nhất là công tước xứ Bavaria Ludwig der Bayer (nhà Wittelsbach) và hoàng tử Friedrich der Schöne (nhà Habsburg) lao vào cuộc chiến tranh chấp ngai vàng, và liên bang ủng hộ Ludwig do lo ngại rằng Friedrich sẽ tiếp tục các nỗ lực thôn tính lãnh thổ của họ. Một vụ tranh cãi về bãi chăn thả ở rừng Canton và khát khao độc lập chủ quyền đã làm bùng phát cuộc chiến giữa ba bang vùng rừng và nhà Habsburg.

Quân đội Áo đông đảo, tổng số 5500 bộ binh và 2500 kỵ binh nặng, trang bị đến tận chân răng và rất thiện chiến, Công tước Leopold I (anh trai của Friedrich) đích thân chỉ huy cùng nhiều Hiệp sĩ, quý tộc miền nam Thánh chế La Mã. Trong khi phía ba bang vùng rừng do phải chia nhau giữ các mặt, nên tại hướng tấn công chính là đèo Morgaten chỉ có dân quân của hai bang Uri và Schwyz, với chừng 1500 người trang bị kém, chủ yếu là giáo, kích, thương, chùy và một ít cung nỏ. Phần lớn họ là nông dân và thị dân, chỉ mặc áo vải mũ da, không có ngựa và rất ít người mang giáp trụ.

Cấu tạo mũi kích Thụy Sĩ, phần trang trí đẹp cho biết nó thuộc về người có địa vị cao

6579957.jpg

Người Áo rất tin tưởng vào thắng lợi của mình, họ cười ầm lên khi biết đối phương đang đắp các công sự phòng thủ bằng gỗ và đất. Thậm chí Henry Huenenberg, một hiệp sĩ nhà Habsburg tham gia cuộc “dẹp loạn” nhận thấy sự chênh lệch quá lớn giữa hai phe, đã lo ngại rằng chiến thắng áp đảo trước một lũ tiện dân như vậy sẽ là một sự sỉ nhục lớn với thanh danh của mình, chợt nổi máu thượng võ, ông ta phi ngựa đến trại Thụy Sĩ và bắn một mũi tên mang thông điệp báo quân đội Áo sẽ hành quân qua đèo Morgaten vào ngày 15, và rằng “đám nông dân ngoan cố” nên giải tán trước khi quá muộn.

 

Người Thụy Sĩ nổi giận và quyết tâm chiến đấu, họ chọn một con đường mòn ở vị trí hẹp nhất trên đèo cạnh hồ Aegen, dùng xe ngựa chất đá và thân cây lớn bịt nó thành ngõ cụt rồi kiên nhẫn chờ đợi. Suốt cả ngày 15 không hề thấy bóng dáng người Áo, nhưng không ai bỏ cuộc. Đêm hôm đó, trăng sáng và trời quang giúp họ phát hiện quân Áo đang tiến đến. Do sự phân chia đẳng cấp phong kiến châu Âu nên đi đầu là 2000 Hiệp sĩ, quý tộc rồi mới đến bộ binh, đường rất hẹp nên cả đoàn quân bị kéo giãn ra hơn 2 km. Phát hiện phía trước bị chặn, các Hiệp sĩ phải xuống ngựa dỡ bỏ chướng ngại vật, một đội khác rẽ vào đường nhánh và nhận thấy đối phương đang chờ sẵn với đội hình chặt chẽ và giáo mác tua tủa. Cùng lúc đó, gỗ, đá, tên đủ các loại từ trên núi rơi như mưa xuống đầu quân Áo, trong đó cung thủ chủ yếu nhắm vào người cưỡi (hạn chế giết ngựa vì có giá). Cự ly khá gần và lợi thế về địa hình nên trường cung và nỏ đạp chân đủ sức bắn xuyên giáp trụ, các khiên gỗ hoặc khiên tự chế trong lúc hoảng loạn của người Áo vỡ tan khi va vào những hòn đá cỡ đầu người. Các Hiệp sĩ không thể tránh né hay đánh trả (quan niệm Hiệp sĩ châu Âu thời đó xem việc sử dụng cung nỏ khi lâm trận là không xứng đáng với tư cách cao quý của mình), họ bị dồn lại, mắc kẹt giữa vách núi và hồ nước bên dưới. Một cánh quân Thụy Sĩ khác từ sườn núi đánh xuống, nhắm vào vị trí giao nhau của bộ binh và kỵ binh Áo, thảm họa bắt đầu với người Áo.

Vốn quen thuộc với kiểu đấu tay đôi của Hiệp sĩ, các quý tộc Áo hoàn toàn không có chuẩn bị gì để đối phó với cách đánh của đối thủ. Bộ binh Thụy Sĩ chủ yếu sử dụng loại vũ khí có cán dài là kích (halberd), một sự kết hợp độc đáo giữa giáo, rìu và lưỡi hái nhỏ có chiều dài khoảng 2 mét. Họ di chuyển và chiến đấu san sát, hàng sau hỗ trợ hàng trước, và ở đường hẹp thì đội hình này không có đối thủ. Một số bộ binh khác cầm chùy gai (morning star) vung bằng cả hai hay và nhảy bổ từ trên núi xuống. Các Hiệp sĩ Áo chỉ quen đánh kiếm không thể áp sát đối thủ, nhiều người bị phần lồi của kích ngoắc vào kéo ngã ngựa, và khiên giáp không chống đỡ được lâu trước những cú đâm và bổ bằng cả hai tay. Lúc này ưu thế về số lượng của người Áo mất hết, bộ binh phía sau bị tách rời và phải rút lui trong hỗn loạn sau những nỗ lực giải cứu bất thành (nhiều ngày sau vẫn còn báo cáo về việc  binh lính bị nông dân đuổi giết trong rừng).

Lính Thụy Sĩ móc kích vào vai một kỵ binh và lôi anh ta xuống ngựa, trước khi xoay
phần đầu rìu bổ chết

B_wars.png

Theo truyền thống thời Trung Cổ, các tù binh quý tộc sẽ được giữ lại để đàm phán tiền chuộc. Nhưng không may cho người Áo là họ rơi vào tay những nông dân chỉ có vài người biết đọc biết viết, vì vậy cách tốt nhất là giết hết rồi lục tài sản từ những xác chết. Các sử gia ghi chép rằng đạo kỵ binh Áo bị vây chặt giống như cá nằm trong lưới, và các quý tộc địa vị cao quý đã bị tàn sát như những cừu trong lò mổ, trước đó nhiều người đã run sợ và nhảy xuống hồ, thà chết đuối còn hơn là rơi vào tay đối thủ. Điều này về sau làm nên tiếng tăm “man rợ” của bộ binh Thụy Sĩ (chỉ một số ít vua chúa quan trọng mới có lệnh bắt sống, còn lại đều giết không tha).

Sau chừng hai giờ giao tranh, lực lượng liên bang hoàn toàn chiến thắng, 1500 xác hiệp sĩ và quý tộc Áo phủ kín con đèo, hàng trăm người khác chìm nghỉm dưới đáy hồ. Phía Thụy Sĩ chỉ có 12 người chết và không nhiều người bị thương. Công tước Leopold I may mắn chạy thoát trong tình trạng suy sụp tinh thần trầm trọng. Việc người Áo thất bại chẳng phải do liên minh mạnh hay may mắn, mà do họ quá chủ quan và không hề chuẩn bị chiến thuật.

Là trận đánh có ý nghĩa “khai quốc”, Morgaten là điểm mốc quan trọng cho sự thành lập liên bang Thụy Sĩ. Khối liên minh cũ được đổi mới và tăng cường qua các điều khoản Hiến chương bổ sung, ký ngày 12 tháng 12 năm đó. Tháng 3 năm 1316, hoàng đế Ludwig IV (đã đánh bại Friedrich và trở thành Hoàng đế Thánh chế La Mã) đã cảm ơn liên bang bằng cách chính thức xác nhận các đặc quyền của khối này. Ludwig IV còn trao tặng cho liên bang biểu tượng chữ thập trắng trên nền đỏ (trùng với biểu tượng bang Schwyz) như một minh chứng cho lòng dũng cảm. Nhiều bang và thành phố khác lần lượt gia nhập liên bang trong những thế kỷ sau (tự nguyện hoặc chiến tranh), tạo nên hình thái Liên bang Thụy Sĩ ngày nay.

Về mặt quân sự, thời đại bá chủ của kỵ binh nặng trên chiến trường đã chấm dứt. Châu Âu bắt đầu nhận ra một lính bộ binh cầm kích hầu như không mặc giáp trụ, có thể đánh bại một hiệp sĩ vũ trang tận răng trên lưng ngựa. Sau này họ bổ sung thêm vào đội hình lính đánh thương (pike) dài 5,5 mét, cho phép chống lại những cú húc của kỵ binh cầm thương. Trận Morgaten mở đầu cho thời đại oai hùng của bộ binh Thụy Sĩ trên khắp châu Âu trong suốt 200 năm, một phần nguyên nhân do các quý tộc không chịu cải cách chiến thuật mà vẫn giữ lấy lối đánh cưỡi ngựa vung gươm. Chiến công nổi tiếng nhất của họ có lẽ là trận Nancy năm 1477, khi quận công Charles Dũng Cảm xứ Burundy bị một nông dân cầm kích bổ vỡ đầu. Lính đánh thuê Thụy Sĩ rất được các vua chúa châu Âu ưa chuộng (đội cận vệ Giáo hoàng đến nay vẫn chỉ tuyển người Thụy Sĩ), đánh thuê trở thành một nghề hợp pháp và là nguồn thu lớn ở quốc gia này. Ở thời đỉnh cao, thống kê hàng năm có đến 80.000 người Thụy Sĩ đi thực hiện các nhiệm vụ quân sự khác nhau, trong đó nước thuê nhiều nhất là Pháp và các công quốc ở Italy. Tuy nhiên đến thế kỷ 16, khi đại bác và súng tay dần dần xuất hiện số lượng lớn, vai trò của bộ binh cận chiến mất đi tác dụng và lính đánh thương chỉ còn nhiệm vụ bảo vệ lính bắn súng khỏi kỵ binh.

Trong Bách khoa toàn thư Anh Quốc, phần “Kỹ thuật quân sự và cách mạng bộ binh”, John Guilmartin viết rằng người Thụy Sĩ đã khám phá ra chiến thuật ô vuông, tạo thành mô hình tiêu chuẩn cho các trung đoàn bộ binh hiện đại. Mặc dù gần giống chiến thuật Phalanx thời Hy Lạp cổ, nhưng các ô vuông không hề có điểm yếu vì bốn mặt đều có thể tác chiến như nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Khi thuốc nổ phát triển, đội hình này chuyển từ đặc thành rỗng để giảm sát thương, và lưỡi lê thay thế cho kích hoặc thương. Mãi đến thế chiến thứ nhất, người ta vẫn thấy cảnh những đơn vị lính bộ binh lập tức xếp thành đội hình ô vuông khi bị kỵ binh địch tấn công.

Liên bang Thụy Sĩ cũ (1300-1798)

Liên bang Thụy Sĩ vào thế kỷ 18, một trong ba bang vùng rừng - Unterwalden đã tách
thành Obwalden và Nidwalden

1280px-Old_Confederacy_18th_centur.png

Năm 1353, ba bang vùng rừng tiếp nhận thêm các bang Glarus, Zug và các thành bang Lucerne, Zürich và Bern. Liên bang gồm tám bang tồn tại đến cuối thế kỷ 15, việc ngày càng mở rộng làm gia tăng quyền lực và thịnh vượng cho liên bang. Năm 1460, liên bang lại một lần nữa đánh bại nhà Habsburg, 17 năm sau chiến thắng Charles Dũng Cảm xứ Burgundy và các chiến thắng liên tiếp của lính đánh thuê Thụy Sĩ trên khắp châu Âu. Bắt đầu từ trận Laupen năm 1339, chữ thập trắng trên nền đỏ được dùng làm hiệu kỳ và khâu vào quần áo các chiến binh, có người còn vẽ lên mặt. Trong các chiến dịch không có sự tham gia của bang Schwyz – chủ nhân của biểu tượng, lá cờ được sử dụng có chữ thập trắng vươn dài ra cạnh, trông giống cờ Đan Mạch.

Liên bang Thụy Sĩ cũ mang danh “bất khả chiến bại” gặp bước lùi năm 1515 khi thất bại trước liên minh Pháp – Venezia. Cải cách Tin Lành bắt nguồn từ Giáo sĩ Martin Luther ở miền bắc Thánh chế La Mã dẫn đến xung đột tôn giáo giữa các bang vào thế kỷ 16. Năm 1648, theo Hòa ước Westfalen các nước châu Âu công nhận sự độc lập của Thụy Sĩ và tính trung lập của nước này, nhằm hạn chế chiến tranh giữa các cường quốc xung quanh như Pháp, Thánh chế La Mã, Áo, Phổ, Bavaria, Genoa, Venezia.

Do các cam kết về sự trung lập, quân đội Thụy Sĩ không tham gia một cuộc chiến nào ở nước ngoài từ năm 1540. Trong thời kỳ này chữ thập trắng đóng vai trò tinh thần quan trọng trong việc thống nhất các bang, đại khái như:“Lá cờ mà ông cha đã cùng với nó mà giành được độc lập, từng cùng nhau chiến đấu dưới nó”. Vào thế kỷ 16, các lực lượng tự do trên lãnh thổ Thụy Sĩ sử dụng lá cờ với chữ thập trắng trên nền sọc xen kẽ các màu sắc của các bang gọi là Flamme, lá cờ này thường được dùng bởi lính đánh thuê Thụy Sĩ ở nước ngoài.

Cờ Flamme

800px-fahne_schweizergarderegiment_frankreich_1721

Chiến tranh Napoléon

Năm 1798, chính phủ cách mạng Pháp xâm lược Thụy Sĩ và áp đặt một bản hiến pháp mới, Liên bang Thụy Sĩ cũ chấm dứt từ đó. Vùng Mulhausen bị cắt cho Pháp còn thung lũng Valtellina cắt cho Cộng hòa Cisalpina (nay thuộc Italy). Chế độ mới mang tên Cộng hòa Helvetic rất không được lòng dân do phá hoại các truyền thống đã tồn tại nhiều thế kỷ, cờ Helvetic gồm hình vuông với ba dải nằm ngang màu xanh lá – đỏ – vàng và dòng chữ “Cộng hòa Helvetic” bằng tiếng Pháp màu vàng nằm giữa dải đỏ.

Khi quân Nga và Áo tiến vào Helvetic, người Thụy Sĩ không chiến đấu cho Helvetic mà chiến đấu cho tổ quốc của mình. Năm 1800, lá cờ của tướng Niklaus Franz von Bachmann trong chiến tranh khôi phục tổ quốc gồm một chữ thập trắng trên nền đỏ, phía trên chữ thập là thanh kiếm và dòng chữ bằng tiếng Đức:”cho quê hương và danh dự”, lá cờ này có ảnh hưởng tới quốc kỳ Thụy Sĩ sau này.

Năm 1803, Thụy Sĩ được khôi phục phần lớn quyền tự trị và Cộng hòa Helvetic sụp đổ. Sau khi Napoleon thua trận trong trận Waterloo, Hội nghị Vienna đã hoàn toàn công nhận nền độc lập và tính trung lập của Thụy Sĩ. Theo hiệp định các vùng Valais, Neuchatel và Genève của Pháp được sáp nhập vào Thụy Sĩ, biên giới Thụy Sĩ không thay đổi từ đó đến nay.

Lá cờ của tướng Niklaus Franz von Bachmann dùng trong chiến tranh khôi phục Thụy Sĩ

swiss_flag_bachmann_1815

Thụy Sĩ không giáp biển nên không có hải quân, nên tạm thời chưa cần một quốc kỳ chung để phân biệt với tàu thuyền nước ngoài. Hiến pháp Thụy Sĩ năm 1848 không nói tới cờ quốc gia mà chỉ nói tới cờ của riêng từng bang, nhưng trong tâm thức của từng người dân Thụy Sĩ đều mường tượng được lá cờ Liên bang: Chữ thập trắng trên nền đỏ. Cuối cùng thiết kế này cũng được công nhận là Quốc kỳ Thụy Sĩ vào ngày 12/12/1889.

Chữ thập đỏ

Chữ thập đỏ là tổ chức nhân đạo lớn nhất thế giới, thành lập năm 1864 và gọi tên theo biểu tượng của tổ chức – chữ thập đỏ trên nền trắng. Chữ thập đỏ gồm có Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) đặt trụ sở tại Genève, Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC) và 189 hội chữ thập đỏ hoặc trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia. Những tổ chức này không phụ thuộc nhau theo pháp lý, nhưng có liên quan với nhau do những mục đích giống nhau. Là một trong những tổ chức phi chính phủ đầu tiên trên thế giới, phong trào Chữ thập đỏ không phân biệt quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giai cấp, địa vị và quan điểm chính trị.

flag_of_the_red_cross-svg

Lịch sử Chữ thập đỏ

Ngày 22/8/1864, 12 nước kết thúc hội nghị ở Genève với quyết định thành lập Hội Chữ thập đỏ quốc tế với Hiệp định Genève thứ nhất. Các nguyên tắc gốc của phong trào là nhân đạo, vô tư, trung lập, độc lập, tự nguyện, thống nhất, toàn cầu và Cosmopolitanism (chủ nghĩa thế giới).

Ý tưởng thành lập hội Chữ thập đỏ là của Henry Dunant, một nhà kinh doanh và nhà hoạt động xã hội người Thụy Sĩ khởi xướng. Ngày nay ngày Chữ thập đỏ thế giới là 8 tháng 5 – ngày sinh của Henry Dunant.

Henry Dunant (1828-1910)

Jean Henry Dunant là một nhà kinh doanh và nhà hoạt động xã hội người Thụy Sĩ. Trong chuyến đi buôn bán ở các Công quốc thuộc Italy năm 1859, ông đã chứng kiến trận Solferino. Và ghi lại các trải nghiệm của mình trong quyển “Hồi ức về Solferino”, cuốn sách này gợi ý cho việc thành lập Hội Chữ thập đỏ quốc tế năm 1863. Công ước Geneve năm 1864 cũng dựa trên các tư tưởng của Henry Dunant khi chứng kiến trận Solferino.

Trận Solferino diễn ra ngày 24/6/1859 tại vùng Lombardy thuộc đế quốc Áo (Italy ngày nay) giữa liên minh Pháp-Sardegna và Áo, Vương quốc Sardegna từng tham gia chiến tranh Crimea, ngày nay là đảo Sardegna và một phần miền tây bắc Italy, thủ đô là Torino. Trận chiến kết thúc với thất bại dành cho đế quốc Áo và Thỏa thuận Villafranca chấm dứt cuộc chiến. Nhưng thứ người ta nhớ nhất về trận chiến này là những trải nghiệm của Henry Dunant khi chứng kiến sự đau đớn của những thương binh nằm lại tại chiến trường mà không hề được chăm sóc. Qua “Hồi ức về Solferino” xuất bản năm 1862, Henry mong muốn phải có một tổ chức hiệp hội chữa trị cho các thương binh trên chiến trường, dẫn đến sự ra đời của Chữ thập đỏ một năm sau đó.

Trận Solferino

1280px-Bossoli,_Carlo_-_Battle_of_Solferino.jpg

Biểu tượng Chữ thập đỏ

Tổ chức Chữ thập đỏ được khởi xướng bởi một người Thụy Sĩ là Henry Dunant, và cũng được thành lập tại thành phố Genève thuộc Thụy Sĩ nên biểu tượng của tổ chức là ngược lại so với Quốc kỳ Thụy Sĩ – chữ thập đỏ trên nền trắng.

Do chữ thập là biểu tượng của đạo Thiên Chúa, không thích hợp với niềm tin tôn giáo của các nền văn hóa khác và không hợp với tính chất toàn cầu của hội, nên biểu tượng Trăng lưỡi liềm đỏ được dùng thay thế ở các nước Hồi giáo. Ngày 8/12/2005, biểu tượng Tinh thể đỏ (còn gọi là Pha lê đỏ hoặc Hình thoi đỏ) ra đời, trước đó còn có biểu tượng Chữ thập và Trăng lưỡi liềm đỏ trên cùng một lá cờ như một nỗ lực dung hòa tôn giáo. Trước đây Israel còn dùng biểu tượng Ngôi sao David đỏ, Iran dùng Sư tử và mặt trời đỏ. Các hội Chữ thập đỏ quốc gia còn dùng biểu tượng của riêng mình bên cạnh Chữ thập đỏ truyền thống.

Red Crystal (Pha lê đỏ)

flag_of_the_red_crystal-svg

Red Crescent (Trăng lưỡi liềm đỏ, dùng ở các nước Hồi giáo)

1280px-flag_of_the_red_crescent-svg

Red Star of David (Ngôi sao David đỏ, dùng ở Israel)

Red_Star_of_David.svg.png

Red Lion with Sun (Sư tử và mặt trời đỏ, dùng ở Iran)

900px-Red_Lion_with_Sun.svg.png

Lá cờ kết hợp Chữ thập và Trăng lưỡi liềm đỏ

emblem_of_the_ifrc-svg

Bộ sưu tập biểu tượng các bang Thụy Sĩ

Các bang Thụy Sĩ

1280px-Switzerland,_administrative_divisions_-_de_-_colored.svg.png

Schwyz - nguồn gốc của tên nước Thụy Sĩ, và nguồn gốc cổ xưa nhất của biểu tượng
chữ thập trắng trên nền đỏ

wappen_des_kantons_schwyz-svg

Uri - một trong ba bang vùng rừng

wappen_uri_matt-svg

Nidwalden

wappen_nidwalden_matt-svg

Obwalden

wappen_obwalden_matt-svg

Thủ đô Bern và bang cùng tên

wappen_bern_matt-svg

Basel Landschaft

wappen_basel-landschaft_matt-svg

Basel Stadt

wappen_basel-stadt_matt-svg

Genève

wappen_genf_matt-svg

Zurich

wappen_zurich_matt-svg

Aargau

wappen_aargau_matt-svg

Appenzell Ausserrhoden

wappen_appenzell_ausserrhoden_matt-svg

Appenzell Innerrhoden

wappen_appenzell_innerrhoden_matt-svg

Fribourg

wappen_freiburg_matt-svg

Glarus

wappen_glarus_matt-svg

Graubunden

wappen_graubunden_matt-svg

Jura

wappen_jura_matt-svg

Luzem

wappen_luzern_matt-svg

Neuchâtel

wappen_neuenburg_matt-svg

St. Gallen

wappen_st-_gallen_matt-svg

Schaffhausen

wappen_schaffhausen_matt-svg

Solothurn

wappen_solothurn_matt-svg

Thurgau

wappen_thurgau_matt-svg

Ticino

wappen_tessin_matt-svg

Valais

wappen_wallis_matt-svg

Vaud

wappen_waadt_matt-svg

Zug

wappen_zug_matt-svg

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_S%C4%A9

https://en.wikipedia.org/wiki/Switzerland

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Switzerland

https://en.wikipedia.org/wiki/Coat_of_arms_of_Switzerland

https://en.wikipedia.org/wiki/Old_Swiss_Confederacy

https://en.wikipedia.org/wiki/Waldst%C3%A4tte

https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Ch%E1%BB%AF_th%E1%BA%ADp_%C4%91%E1%BB%8F_v%C3%A0_Tr%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A1i_li%E1%BB%81m_%C4%91%E1%BB%8F_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF

https://vi.wikipedia.org/wiki/Henry_Dunant

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Solferino

https://en.wikipedia.org/wiki/Kingdom_of_Sardinia

http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=40146

Advertisements