( 日本 ) Nhật Bản: Mặt trời xứ Phù Tang

Khái quát

Quốc kỳ Nhật Bản (wallpaper)

japan-flags-wallpaper-1.jpg

Quốc huy Nhật Bản

990px-imperial_seal_of_japan-svg

Dấu triện chính phủ Nhật Bản

goshichi_no_kiri-svg

Vị trí Nhật Bản

536px-Japan_(orthographic_projection).svg.png

Vùng lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát, không bao gồm quần đảo Nam Kuril (cách gọi của Nga)

japan-location-cia

Bản đồ Nhật Bản

political-map-of-Japan.gif

Tên đầy đủ: Nhật Bản; không có khẩu hiệu

Quốc ca: 君が代 (Kimi Ga Yo – Quân Chi Đại)

585px-kimigayo-svg

Ngôn ngữ chính thức: tiếng Nhật

Thủ đô và thành phố lớn nhất: Tokyo (東京都 – Đông Kinh Đô)

Diện tích: 377 972,28 km² (hạng 62)

Mật độ dân số: 340,8 người/km(hạng 36)

Quốc khánh: 3/5/1947

Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本 ;tên chính thức là 日本国 tức “Nhật Bản Quốc“) là Quốc đảo ở vùng Đông Á. Nằm trên rìa tây bắc Thái Bình Dương, Nhật nằm bên rìa phía đông của biển Nhật Bản, biển Hoa Đông, Trung Hoa đại lục, bán đảo Triều Tiên và vùng viễn đông Nga; trải dài từ biển Okhotsk phía bắc xuống biển Hoa Đông và đảo Đài Loan phía nam. Chữ kanji trong Quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là “gốc của mặt trời”, và người ta thường gọi Nhật Bản bằng biệt danh “Đất nước Mặt Trời mọc”.

Nhật Bản là một quần đảo núi lửa với khoảng 6852 hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Bốn hòn đảo lớn nhất từ bắc xuống nam là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu chiếm khoảng 97% diện tích đất liền, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và đồi núi với nguồn khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên hạn chế, không có “rừng vàng biển bạc”.

Vùng quần đảo Nhật Bản được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý từ bắc xuống nam là Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kansai, Chugoku, Shikoku và Kyushu. Dân số Nhật đứng thứ 10 thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Nigeria, Bangladesh và Nga) tập trung chủ yếu tại các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,5% dân số cả nước. 13 617 445 cư dân sống tại trung tâm Tokyo – thủ đô và thành phố lớn nhất đất nước (37 800 000 dân nếu tính toàn lãnh thổ Tokyo). Vùng thủ đô Tokyo và vài tỉnh xung quanh là vùng đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và là nơi có nền kinh tế đô thị phát triển nhất thế giới. Đảo Honshu – đảo lớn nhất của Nhật là hòn đảo lớn thứ 7 và đông dân thứ hai thế giới sau đảo Java của Indonesia, và Tokyo là thành phố lớn nhất nằm trên đảo.

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới sau Mỹ và Trung Quốc. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến và tham chiến ở nước ngoài, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách quốc phòng cao thứ 8 thế giới được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Nhật được xem là một trong những nước giỏi xuất khẩu văn hoá và “quyền lực mềm” nhất, văn hoá và quyền lực mềm Nhật Bản có ảnh hưởng trên toàn thế giới.

Quốc kỳ Nhật Bản

japan-flag (1).jpg

Quốc kỳ Nhật Bản gồm hình chữ nhật màu trắng và một hình tròn lớn màu đỏ (tượng trưng cho mặt trời) tại trung tâm. Quốc kỳ Nhật được gọi chính thức là Nisshōki (日章旗 :Nhật chương kỳ) trong tiếng Nhật, song được gọi quen thuộc hơn là Hinomaru (日の丸 Nhật chi hoàn). Lá cờ hải quân với 16 tia nắng được gọi là Húc Nhật kỳ.

Nhật chi hoàn được chỉ định làm quốc kỳ theo Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được công bố ngày 13/8/1999. Trước đó không có pháp luật chỉ định về quốc kỳ, nhưng hiệu kỳ mặt trời là quốc kỳ trên thực tế của Nhật Bản. Năm 1870, Nhật chi hoàn được thông qua làm lá cờ sử dụng trên thương thuyền Nhật, còn Húc Nhật kỳ là lá cờ sử dụng trong Hải quân. Việc sử dụng Húc Nhật kỳ bị hạn chế nghiêm ngặt trong những năm đầu sau thế chiến thứ hai, nhưng sau đó được nới lỏng và ngày nay đó là lá cờ được dùng bởi Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản. Húc Nhật kỳ bị cấm hiển thị ở Trung Quốc đại lục và bán đảo Triều Tiên.

Trong lịch sử ban đầu, Nhật chi hoàn được sử dụng trên các hiệu kỳ của những Daimyo (Đại Danh) và các Samurai. “Tục Nhật Bản kỷ” ghi rằng Văn Vũ thiên hoàng đã sử dụng một hiệu kỳ tượng trưng cho mặt trời trong triều đình của ông năm 701, đây là ghi chép sớm nhất về việc sử dụng hiệu kỳ tượng trưng cho mặt trời tại Nhật Bản. Trong thời Minh Trị duy tân, Nhật chi hoàn và Húc Nhật kỳ trở thành những biểu tượng chính của đế quốc Nhật Bản.

Việc vẫn tiếp tục sử dụng Húc Nhật kỳ, Nhật chi hoàn, bài quốc ca Kimigayo và quốc huy hoa cúc vàng (giống hệt thời đế quốc Nhật Bản) trở thành một vấn đề gây tranh luận sau thế chiến thứ hai. Đối với một vài quốc gia từng bị Nhật chiếm đóng, lá cờ hải quân Húc Nhật kỳ là một biểu tượng của quân phiệt và chủ nghĩa đế quốc.

Thiết kế

486px-construction_sheet_of_the_japanese_flag_no_text-svg

Lịch sử

Hình tượng mặt trời

japan-flag-wave-bird.jpg

Vào thế kỷ thứ 4, Nhật Bản lấy tên nước là Yamato, còn người Hán từ trước công nguyên đã gọi nước Nhật là Oa quốc (nghĩa là nước lùn), gọi người Nhật là Oa nhân (người lùn). Cũng có thuyết cho rằng từ Oa lấy từ tên Nữ Oa nương nương, vì người Nhật cũng thờ phụng một nữ thần là Amaterasu.

Năm 670, Thiên hoàng gửi một đoàn sứ bộ đến chúc mừng triều đình nhà Đường dưới thời vua Đường Cao Tông nhân dịp bình định xong Cao Ly. Trong quốc thư viết theo lối nói của người Trung Hoa:”Thiên Tử xứ mặt trời mọc gửi Thiên Tử xứ mặt trời lặn”. Thể hiện việc xem quần đảo Nhật chưa được nhiều người biết đến thời đó ngang hàng với Trung Hoa rộng lớn. Trong triều thần nhà Đường cũng có người chê cười:”Người Oa man di lại tự ví mình với mặt trời”.

Hình tượng mặt trời xuất phát từ việc quần đảo Nhật là nơi đầu tiên đón nhận ánh nắng ở vùng Đông Á và người Nhật cũng tôn sùng nữ thần mặt trời Amaterasu, ở Trung Hoa hay tất cả những vùng đất mà người Nhật biết đến thời đó hằng ngày đều đón nhận ánh sáng đến từ mặt trời mọc hướng đông – tức hướng Nhật Bản. Từ thế kỷ thứ 7 các vị vua nhà Đường chấp nhận cách xưng hô mới là Nhật Bản Quốc. Việc nhà Đường không gọi Nhật là Oa Quốc nữa xuất phát từ nỗ lực củng cố quan hệ đôi bên. Đại Đường cần quan hệ tốt với Nhật Bản vì hai nước được ngăn cách bởi biển khơi – tức Trung Hoa rất khó xâm lược Nhật Bản (xa thì kết giao gần thì tấn công trong Binh pháp Tôn Tử). Từ Minh Trị duy tân đến sau thế chiến thứ hai Nhật tên là Đại Nhật Bản Đế Quốc, thường gọi là đế quốc Nhật Bản.

Trong tiếng Anh, Nhật Bản được gọi là Japan, từ này xuất hiện ở phương tây vào đầu giai đoạn mậu dịch Nanban (1543-1641), giai đoạn Nhật mở cửa hạn chế với ngoại quốc trước khi đóng cửa hoàn toàn. Thời trung cổ người châu Âu gọi Nhật là Cypangu, cái tên này được nhà du hành người Venice Marco Polo ghi lại khi ở nhà Nguyên của Hãn Hốt Tất Liệt. Marco Polo chưa đến Nhật bao giờ nhưng mô tả Nhật là “Xứ sở đầy vàng bạc châu báu với những lâu đài được dát vàng”. Miêu tả này kích thích những người tin rằng trái đất hình cầu ở bán đảo Iberia tiến ra Đại Tây Dương để đến bờ đông châu Á, và rồi họ tìm ra châu Mỹ một cách tình cờ.

Nhật Bản trong tiếng Mã Lai cổ ở bán đảo Malacca được gọi là Jepang, từ này vay mượn từ tiếng địa phương ven biển miền nam Trung Hoa gọi Nhật là Zeppen. Từ này đã được các tàu Bồ Đào Nha (nước chiếm Malacca năm 1511 và là nước châu Âu đầu tiên đến Đông Á) mang sang châu Âu để thay cho tên gọi Cypangu, từ đó cho ra đời cái tên Japan.

Trước 1870 và Minh Trị duy tân

Theo truyền thuyết, khi đế chế Mông Cổ xuất phát từ Cao Ly xâm lược Nhật Bản trong thế kỷ 13, hòa thượng Nhật Liên (日蓮) đã trao một hiệu kỳ hình tròn đỏ trên nền trắng tượng trưng cho mặt trời cho Shogun (Tướng quân) để mang ra chiến trường, với mong muốn chờ tin thắng trận. Và hạm đội Mông Cổ đã bị một cơn bão đánh tan, người Nhật gọi cơn bão này là Kamikaze – Thần Phong.

Thần Phong ở Kanagawa, tranh của Katsushika Hokusai (1760-1849)

the_great_wave_off_kanagawa

Một trong những hiệu kỳ cổ nhất Nhật Bản là tại chùa Unpo thuộc tỉnh Yamanashi. Theo truyền thuyết thì Thiên hoàng Go Reizei đã trao nó cho Minamoto Yoshimitsu và nó được xem là một bảo vật của gia tộc Takeda trong hơn 1000 năm qua.

Các hiệu kỳ được ghi nhận sớm nhất tại Nhật Bản có từ thời kỳ thống nhất vào cuối thế kỷ 16. Các hiệu kỳ này thuộc về mỗi Daimyo và được sử dụng chủ yếu trên chiến trường. Hầu hết hiệu kỳ là các dải dài mang gia văn của các Daimyo. Các thành viên trong cùng một gia tộc có những hiệu kỳ khác nhau để mang ra chiến trường. Các tướng lĩnh cũng có những hiệu kỳ riêng của mình.

Hạm đội của Yuki Yoshitaka năm 1594

1280px-Atakebune3.jpg

Chiến hạm Asahi Maru của Mạc phủ Tokugawa năm 1856

963cef976528a921e80ea1a403dcb470

Chiến tranh Tây Nam năm 1877

1280px-ShiroyamaBattle.jpg

Năm 1854, thời Mạc phủ Tokugawa các tàu thuyền của Nhật Bản được lệnh kéo Nhật chi hoàn nhằm phân biệt chúng với tàu nước ngoài. Trước đó, các thiết kế khác nhau của Nhật chi hoàn được sử dụng trên những tàu thuyền giao dịch với người Mỹ và Nga. Nhật chi hoàn được quy định là hiệu kỳ thương mại của Nhật Bản vào năm 1870 và là quốc kỳ chưa chính thức từ năm 1870 đến năm 1885, đây là lá cờ đại diện cho quốc gia đầu tiên được Nhật Bản thông qua.

Khái niệm biểu tượng quốc gia còn xa lạ với người Nhật, nhưng chính phủ Minh Trị cần chúng để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điều này trở nên đặc biệt quan trọng sau khi Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew C. Perry tiến vào vịnh Yokohama cùng 4 chiếc tàu đen. Chính phủ Minh Trị còn quy định thêm các biểu tượng quốc gia khác cho Nhật Bản, trong đó có lá cờ hải quân Húc Nhật kỳ, quốc ca Kimigayo, quốc huy hoa cúc vàng và quốc hoa là hoa anh đào.

Đế quốc Nhật Bản

Banzai (Vạn tuế) - tiếng hô của binh lính đế quốc Nhật trước khi xung trận và khi
thực hiện kiểu tấn công cảm tử Kamikaze

banzai

Cờ Hải quân đế quốc Nhật Bản (1889-1945) và Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản
ngày nay

900px-naval_ensign_of_japan-svg

Cờ Lục quân đế quốc Nhật Bản (1870-1945)

War_flag_of_the_Imperial_Japanese_Army.svg.png

Đế quốc Nhật thời kỳ rộng lớn nhất

Japanese_Empire_(orthographic_projection).svg.png

Việc sử dụng Nhật chi hoàn và Húc Nhật kỳ tăng lên khi Nhật Bản mưu cầu phát triển thành một đế quốc ngang hàng với phương tây, cả hai lá cờ này hiện diện tại các buổi lễ sau những chiến thắng trong chiến tranh Thanh-Nhật và Nga-Nhật. Một phim tuyên truyền năm 1934 phác hoạ những quốc kỳ nước ngoài có thiết kế không hoàn chỉnh hoặc có nhiều khuyết điểm, còn quốc kỳ Nhật Bản thì hoàn toàn hoàn hảo.

Nhật chi hoàn lại được sử dụng trong các lễ kỷ niệm khi Nhật Bản giành được những thắng lợi trong Chiến tranh Trung-Nhật. Các binh sĩ Nhật Bản đều cầm quốc kỳ khi diễu hành trên đường phố Trung Quốc. Sách giáo khoa trong thời kỳ này đều in Nhật chi hoàn cùng những câu khẩu hiệu khác nhau nhằm biểu thị sự trung thành với Thiên hoàng và quốc gia. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan được giảng dạy như một đức tính hiển nhiên cho trẻ em Nhật Bản. Những hành động như treo quốc kỳ ở nơi trang trọng hoặc kính bái Thiên hoàng hằng ngày được xem là tính cách của một “người Nhật hoàn hảo”.

Nhật chi hoàn và Húc Nhật kỳ là công cụ của đế quốc Nhật Bản tại các khu vực bị chiếm đóng, người dân bản địa phải sử dụng và xem cờ Nhật như lá cờ linh thiêng. Các biểu tượng của chế độ cũ chỉ được phép sử dụng tại một số khu vực như Mãn Châu, Philippines và Indonesia. Tại bán đảo Triều Tiên, lá cờ Thái cực bị cấm hiển thị nhằm giáng người Hàn xuống vị thế hạng hai trong chính quê hương mình. Đối với người Nhật thời đó, về cơ bản Nhật chi hoàn và Húc Nhật kỳ mang ý nghĩa:”Mặt trời xuất hiện tại đế quốc mặt trời mọc soi sáng bóng tối trên toàn thế giới”.

Sau đệ nhị thế chiến

Nhật chi hoàn là quốc kỳ chưa chính thức của Nhật Bản trong suốt thế chiến thứ hai và thời kỳ bị chiếm đóng. Trong thời gian đầu Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, cần phải có sự chấp thuận từ Tư lệnh tối cao quân Đồng Minh tại Nhật là Douglas McArthur để được treo Nhật chi hoàn tại nơi công cộng. Giống như lá cờ Swastika của Đức Quốc xã, lá cờ hải quân Húc Nhật kỳ ban đầu bị hạn chế nghiêm ngặt, nhưng Húc Nhật kỳ không đến mức độ bị cấm hoàn toàn như Swastika.

Ngày 2/5/1947, Tướng Douglas McArthur bãi bỏ việc cấm treo Nhật chi hoàn trong tòa Quốc hội, Hoàng cung, dinh Thủ tướng, tòa án tối cao cùng với việc phê chuẩn Hiến pháp Nhật Bản mới. Những hạn chế này được nới lỏng hơn nữa vào năm 1948, khi người dân được Nhật chi hoàn trong những ngày lễ. Đến tháng 1/1949, hạn chế bị bãi bỏ và bất cứ ai cũng có thể treo Nhật chi hoàn vào bất kỳ thời gian nào mà không cần sự cho phép.

Sau thế chiến, quốc kỳ Nhật Bản bị cho là có liên hệ với quá khứ quân phiệt của quốc gia, nhất là tại Trung Hoa đại lục và bán đảo Triều Tiên. Sự thù ghét tương tự cũng dành cho bài quốc ca Kimigayo. Với những nơi khác thì Nhật chi hoàn, Húc Nhật kỳ và bài quốc ca Kimigayo nhìn chung đã thay đổi từ chủ nghĩa đế quốc năm xưa sang một Nhật Bản yêu hòa bình và chống quân phiệt.

Năm 1989, Thiên hoàng Hirohito băng hà, sự kiện này lại làm nổi bật lên vấn đề về biểu tượng tinh thần dân tộc là lá quốc kỳ. Phe bảo thủ cho rằng lá cờ năm xưa có thể được sử dụng trong tang lễ (kể cả Húc Nhật kỳ), họ muốn Nhật chi hoàn trở thành quốc kỳ chính thức một cách hiển nhiên mà không cần quan tâm đến quá khứ thời đế quốc. Trong tang lễ chính thức kéo dài sáu ngày, các lá cờ được treo rủ hoặc bọc trong dải màu đen trên toàn Nhật Bản.

Pháp luật Nhật Bản về quốc kỳ và quốc ca được thông qua vào năm 1999, chính thức cộng nhận Nhật chi hoàn làm quốc kỳ, Kimigayo làm quốc ca và Húc Nhật kỳ làm cờ lực lượng Phòng vệ biển. Lá cờ 16 tia nắng Húc Nhật kỳ là cờ lục quân đế quốc Nhật khi xưa (hình tròn đỏ ở trung tâm), trong khi lá cờ có hình tròn chếch về phía cán cờ là cờ hải quân. Người Trung Quốc và Hàn Quốc cho rằng Húc Nhật kỳ vẫn chưa bị cấm thì không việc gì lại cấm lá cờ Swastika của Đức Quốc xã. Ở Nhật không hề có hạn chế nào về việc dùng Húc Nhật kỳ để khơi gợi niềm tự hào dân tộc.

Khái quát lịch sử Nhật Bản

 

https://www.youtube.com/channel/UCq6aw03lNILzV96UvEAASfQ

 

 

Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại quần đảo Nhật từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến vùng đất này nằm trong các tư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. Ban đầu Nhật chưa phải là một nước lớn mạnh và thường chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, chủ yếu là từ các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Phật giáo lưu truyền vào Nhật Bản qua đường bán đảo Triều Tiên, được tiếp nhận và cùng tồn tại song hành với Thần đạo là tôn giáo truyền thống của người Nhật trước đó. Đi theo Phật giáo còn có các sản phẩm của “dòng chảy văn minh” như sách vở và các thư tịch cổ Trung Hoa, tiêu biểu như “binh pháp Tôn Tử”, quãng thời gian này góp phần lớn vào việc hình thành cấu trúc xã hội Nhật thời phong kiến.

Có thuyết còn cho rằng Từ Phúc (tiếng Hán: 徐福) từ thế kỷ thứ ba trước công nguyên đã nhận lệnh của Tần Thủy Hoàng đi về “bể Đông” để tìm thuốc trường sinh bất lão, biết không thể nào tìm được nên trước khi đi ông xin “500 đồng nam và 500 đồng nữ” rồi trốn đến một vùng đất được Sử ký của Tư Mã Thiên mô tả giống với Nhật Bản thời xưa và tự xưng là vua ở đó (tức Thiên hoàng đầu tiên), dĩ nhiên câu chuyện này một phần do người Trung Hoa thêu dệt để đề cao nước mình mà thôi.

  • Từ 15000 năm trước công nguyên, ở Nhật Bản đã có con người sinh sống.
  • Từ 13000 năm trước công nguyên, người Nhật biết trồng lúa, làm đồ gốm và sống định cư.
  • Từ 300 năm trước công nguyên biết sử dụng đồ kim khí.
  • Từ thế kỷ thứ 3 đến giữa thế kỷ thứ 6, những nhà nước đầu tiên xuất hiện. Thần đạo bấy giờ đã phát triển khắp cả nước. Nước Nhật bắt đầu tự gọi mình là Yamato.
  • Từ thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8, một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành phố Nara ngày nay). Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản. Cũng trong khoảng thời gian này, thành lập nhà nước phong kiến Nhật Bản với cuộc cải cách Taika (Đại Hóa) do Thiên hoàng Tokoku (Hiếu Đức) đề xướng.
  • Giữa thế kỷ thứ 8, Phật giáo thiết lập cơ sở vững chắc ở Nhật Bản.
  • Từ thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 12, các dòng họ quý tộc hùng mạnh ở Heian thay nhau nắm sức mạnh chính trị của đất nước, lấn át quyền lực Thiên hoàng. Cuối thời này, tầng lớp Samurai bắt đầu hình thành và tranh giành quyền lực với các dòng họ quý tộc.
  • Cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 14, quyền lực thực sự nằm trong tay tầng lớp Samurai ở Kamakura. Vào các năm 1271 và 1281, các vương triều và Samurai Nhật Bản với sự trợ giúp của bão và sóng thần (Kamikaze – Thần Phong) đã đánh bại hải quân nhà Nguyên-Mông xuất phát từ Cao Ly xâm lược nước mình.
  • Từ thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 16, nước Nhật trong tình trạng mất ổn định do nội chiến và chia rẽ, gọi là thời kỳ Chiến Quốc. Nhật Bản từng tấn công Cao Ly, nhà Minh và bảo trợ hải tặc ở vùng bờ biển Trung Hoa trong thời kỳ này, nhưng thất bại.
Trận Sekigahara trong manga Vagabond

001.jpg

Bonus :v

003.png

  • Năm 1600, Đông quân đánh bại Tây quân trong trận Sekigahara – trận đánh lớn nhất thời phong kiến Nhật Bản, thời Chiến Quốc kết thúc, nước Nhật thực hiện chính sách Bế quan tỏa cảng (Sakoku) ổn định kéo dài ba thế kỷ dưới sự cai trị của Mạc phủ Tokugawa.
  • Người phương tây, khởi đầu là người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cố thiết lập giao thương nhưng không thành công, về sau người Hà Lan được phép giao thương hạn chế với Nhật Bản thông qua cảng Nagasaki nằm phía tây đảo Kyushu, do người phương tây đến Nhật từ vùng biển phía nam nên người Nhật gọi họ là “Nam man”. Quãng thời gian này cũng xuất hiện một số Huyền thoại quốc gia về tinh thần Samurai, tiêu biểu như “47 Ronin”.
  • Chính sách Tỏa Quốc kéo dài hơn 200 năm đến ngày 8/7/1853 khi phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew C. Perry cùng với 4 chiến hạm tiến vào vịnh Edo và phô diễn sức mạnh của các khẩu pháo hạm. Đó là lần đầu tiên người Edo nhìn thấy những thứ như vậy và họ không khỏi khiếp sợ. Perry lịch sự yêu cầu Thiên hoàng chấm dứt Tỏa quốc và mở cửa thương mại với phương tây, những con tàu này được người Nhật gọi là Kurofune (Hắc thuyền).
  • Giữa thế kỷ 19, trước nguy cơ xâm lược của các cường quốc châu Âu. Fukuzawa Yukichi viết “thoát Á luận”, đề xuất tư tưởng thoát khỏi lối suy nghĩ của người châu Á để học hỏi văn minh phương tây. Sau năm 1868, với cuộc Minh Trị duy tân do Thiên hoàng Minh Trị đề xướng, Nhật Bản mở cửa triệt để với phương Tây, gởi nhiều du học sinh và quan chức ngoại giao sang phương tây học hỏi. Điều thú vị là Nhật Bản không học tất cả những thứ hay hơn mình mà chỉ học những thứ hay nhất của từng quốc gia phương tây, họ không để cho những thứ vừa tiếp thu phá hủy nền văn hóa truyền thống.
  • Chế độ Mạc phủ và các Phiên do Daimyo (Đại danh) đứng đầu bị bãi bỏ, quyền lực được tập trung tối cao trong tay Thiên hoàng. Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị dời đô từ Kyoto về Tokyo. Cách mạng công nghiệp diễn ra mạnh mẽ, nước Nhật gia nhập hàng ngũ “đế quốc trẻ” cùng với Hoa Kỳ và đế quốc Đức, đi đôi với nó là chủ nghĩa bành trướng với mong muốn được hưởng quyền lợi ngang hàng với các cường quốc già như Anh và Pháp. Đế quốc Nhật xâm chiếm đảo Đài Loan, vương quốc Ryukyu (Lưu Cầu), đánh bại nhà Thanh, đế quốc Nga trong chiến tranh Thanh-Nhật và Nga-Nhật, xâm lược bán đảo Triều Tiên.

japan-flag

  • Trong thế chiến thứ nhất, Nhật đứng về phe Hiệp ước của Anh và Pháp, nhưng bản thân người Nhật không quá nỗ lực tham chiến mà chủ yếu chỉ ăn theo Anh để kiếm chút lợi nhuận (Anh, Pháp, Mỹ là những đối tác kinh tế lớn của Nhật). Nguyên nhân khác khiến Nhật không quá nỗ lực chống Đức (tuy có tuyên chiến) là vì Đức hầu như chẳng làm được gì ở đông Á chỉ với mấy đảo lẻ tẻ vùng New Guinea. Hình ảnh đế quốc trẻ Đức gần như một mình chống lại cả thế giới dễ khiến người Nhật liên tưởng đến những Samurai một mình xông vào quân địch khi xưa, là tiền đề khiến Nhật tham gia phe trục cùng với Đức Quốc xã và Phát xít Italy. Đây đều là những đế quốc trẻ, ít thuộc địa, ít tài nguyên và cần mở rộng không gian sinh tồn bằng cách chống lại những cường quốc già.
  • Năm 1923 thủ đô Tokyo chịu thiệt hại nặng trong trận động đất Kanto. Trước thế chiến thứ hai, Nhật đã xâm lược Trung Hoa dân quốc năm 1937, quân phiệt Nhật đứng về phe Trục với Đức Quốc xã và Phát xít Italy. Không kích Trân Châu cảng năm 1941 kéo Mỹ vào thế chiến. Đế quốc Nhật đầu hàng sau khi bị Mỹ chiếm một loạt đảo quan trọng trên Thái Bình Dương, nhân dân vùng Đông nam Á, Trung Hoa và bán đảo Triều Tiên nổi dậy giành độc lập và hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki.
  • Mỹ không thể chần chừ trong việc ném bom nguyên tử do họ rất khó để đổ bộ lên đất liền, nếu thành công cũng sẽ chịu thương vong khổng lồ do người Nhật đã quyết tâm tự vệ tập thể. Trong lúc Mỹ sa lầy Liên Xô có thể tấn công Nhật từ phía bắc và thành lập một nhà nước Xã hội chủ nghĩa ở đảo Hokkaido, một nửa miền bắc hoặc toàn bộ lãnh thổ Nhật.
  • Tuy Liên Xô không mạnh hải quân nhưng họ cũng vừa đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu, và để đổ bộ lên đất liền họ sẽ có sự trợ giúp của người Trung Hoa với chiến thuật biển người đặc trưng. Nhưng Mỹ đã kết thúc chiến tranh và thu toàn bộ đất Nhật về tay mình bằng hai quả bom nguyên tử, Liên Xô chỉ kịp chiếm quần đảo Kuril và vùng Karafuto (đảo Sakhalin).
  • Mục tiêu đầu tiên của quả bom nguyên tử không phải Hiroshima mà là Kyoto – cố đô nước Nhật. Nhưng Kyoto đã không bị phá hủy do đây vẫn là thủ đô tinh thần của người Nhật dù cho đã dời thủ đô về Tokyo. Việc phá hủy Kyoto còn tệ hơn cả việc phế truất Thiên hoàng.
  • Một điều thú vị là khi đến Nhật năm 1853 Matthew C. Perry có mang lên bờ một lá cờ Hoa Kỳ với 31 ngôi sao, 92 năm sau khi Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng lá cờ này đã được chỉnh sửa lại vì quá cũ và mỏng, sau đó gấp rút được chuyển từ Mỹ sang nơi ký văn kiện là thiết giáp hạm USS Missouri (BB-63), như cách để người Mỹ nói với Perry rằng: “nước Nhật lạc hậu lúng túng và sợ hãi khi ông dùng tàu uy hiếp ngày nào nay đã trưởng thành”.
  • Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1945, Nhật thất bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài. Thống tướng Douglas McAthur của Hoa Kỳ phụ trách việc chiếm đóng Nhật Bản, ông cải cách lại nước Nhật bị tàn phá, phản đối việc phế truất Thiên hoàng và không cho phép người Mỹ thiếu tôn trọng người Nhật. Thống tướng McAthur nằm trong danh sách 12 vị khai quốc công thần trong lịch sử Nhật Bản dù là người nước ngoài. Cho tới nay Mỹ – Nhật vẫn liên minh chặt chẽ, hạm đội 7 của hải quân Mỹ đang đóng ở quần đảo Okinawa của Nhật.
  • Ngày nay, tuy Nhật không có vũ khí hạt nhân nhưng vẫn nằm trong số những nước có lực lượng quân đội mạnh nhất. Vị thế rất cao trên thế giới và được xem là cường quốc bậc cao.
  • Nhật là một trong những nước giỏi xuất khẩu văn hóa nhất, văn hóa và quyền lực mềm Nhật Bản có ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới.

Amaterasu

Amaterasu art by Genzoman

amaterasu_by_genzoman

Amaterasu (天照 :Thiên Chiếu) là một vị thần trong thần thoại Nhật Bản, và một là vị thần ( :Kami) quan trọng trong Thần đạo. Amaterasu không chỉ được coi là thần mặt trời, mà còn là thần vũ trụ. Tên gọi Amaterasu có nguồn gốc từ cụm từ amateru, mang ý nghĩa “toả sáng trên thiên đường.” Ý nghĩa toàn bộ tên gọi của bà: Amaterasu Omikami là “vị thần vĩ đại uy nghi toả sáng trên thiên đường”. Theo Kojiki và Nihon Shoki trong thần thoại Nhật Bản, các Thiên hoàng được coi là hậu duệ trực tiếp của Amaterasu hay thần mặt trời. Bà được sinh ra từ mắt trái của Izanagi khi ông đang tẩy uế trong một dòng sông và tiếp tục trở thành chủ nhân của Takamagahara (Cao Thiên Nguyên).

Amaterasu được miêu tả trong Kojiki (Cổ Sự Ký) là thần mặt trời, sinh ra từ Izanagi cùng với em trai bà là thần gió bão Susanoo và thần mặt trăng Tsukuyomi (những cái tên này đều có trong Naruto nhé). Trong Kojiki, Amaterasu được miêu tả là vị thần tỏa ra ánh sáng và thường được nói đến như thần mặt trời vì hơi ấm và lòng nhân từ đối với những người thờ phụng bà. Một số huyền thoại khác nói rằng Amaterasu sinh ra từ nước.

Phần lớn các thần thoại về bà xoay quanh việc bà tự giam mình trong hang vì hành động của người em trai. Trong một thời gian dài, cả 3 vị thần được tôn thờ đều sống hòa hợp và cả thế giới được êm ấm. Một ngày nọ, Susanoo trong cơn say đã giẫm vào đồng lúa của Amaterasu, lấp tất cả các kênh mương của bà, ném thứ ô uế vào cung điện và đền thờ của bà. Amaterasu yêu cầu em trai mình dừng lại nhưng ông ta mặc kệ, thậm chí còn ném xác một con ngựa lang trắng đã lột da vào người hầu gái của bà lúc đó đang dệt vải. Người con gái bị chết bởi một thoi dệt vải bung ra ngoài và đâm xuyên qua người (trong Kojiki nói nó đâm vào bộ phận sinh dục.

Amaterasu hết sức bất bình bèn lánh vào Thiên Nham Cung (hang trời) lấp kín cửa vào, vì vậy thế gian chìm đắm trong tăm tối không còn ban ngày. Bà tuyên bố hễ chư thần còn chấp nhận cho Susanoo sống chung, bà sẽ ở lì trong Thiên Nham Cung không xuất hiện nữa. Chư thần hết sức bối rối, cùng tập hợp bên dòng sông Thiên Hà cạn khô, ban đầu còn ít, sau đông dần lên tới tám triệu vị, bàn nhau tìm cách nào khiến Amaterasu rời khỏi Thiên Nham Cung. Vị thần mưu cơ là Takami Misubi nói:

“Nữ thần Amaterasu thường ló dạng mỗi khi nghe tiếng gà gáy, vậy chúng ta nên buộc chạc, rồi cho những con gà trống đậu lên đó thay phiên nhau gáy thật to”.

Việc đó được thực hiện ngay nhưng không hiệu quả. Thần mưu cơ lại tìm ra cách gợi trí tò mò của nữ thần. Thần sai một thần thợ rèn một mắt làm một tấm gương thật sáng, đặt trước Hang Trời. Trên tấm gương thần có treo những chuỗi ngọc trắng hình cánh cung và những đồ lễ bằng chỉ bạch, rồi tất cả hát lễ van vái (norito). Tuy nhiên cuộc vui của chư thần chỉ hiệu nghiệm khi nữ thần Amano Uzume xuất hiện với một vũ khúc đặc biệt. Amaterasu nghe tiếng nữ thần Uzume bèn tò mò mở hé cửa hang rồi cất tiếng hỏi:

“Ta ngỡ rằng khi vắng ta, tám triệu thần linh sẽ buồn bã trong đêm tối, sao lại vui vẻ như vậy được”?

Nữ thần Uzume trả lời:

“Xin thưa, vì bọn tôi đã tìm được một vị nữ thần mới nhan sắc còn kiều diễm hơn người nữa”.

Nghe vậy Amaterasu càng tò mò, và ghen tức nữa, bèn mở rộng cửa bước ra và nhận thấy bóng mình phản chiếu rực rỡ trong gương. Một vị thần tiến tới cầm lấy tay Amaterasu, các chư thần khác lập tức chăng dây ngang phía sau, chặn lối vào hang.

Kể từ lúc đó ánh sáng lại chan hoà khắp thế gian, ngày đêm lại bắt đầu luân chuyển.

Sau đó bà cử cháu trai là Ninigino Mikoto đến bình định Nhật Bản, ông là cụ nội của Thiên hoàng đầu tiên, Thiên hoàng Jimmu. Ông có ba thần khí: thanh kiếm (kusanagi), viên ngọc (yasakani no magatama) và gương (yata no kagami).

Amaterasu được tôn thờ là người tạo ra việc canh tác lúa gạo, lúa mì, trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt vải.

japanese-anime-wallpaper-resolution-flag

Bonus :)))

 

xKito Music: https://www.youtube.com/channel/UCMOgdURr7d8pOVlc-alkfRg

 

 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_k%E1%BB%B3_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%BAc_Nh%E1%BA%ADt_k%E1%BB%B3

https://vi.wikipedia.org/wiki/Amaterasu

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

https://en.wikipedia.org/wiki/Japan

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Japan

https://en.wikipedia.org/wiki/Rising_Sun_Flag

https://en.wikipedia.org/wiki/Prefectures_of_Japan

Advertisements