( الجزائر ) Algeria: Hải tặc Barbary

Khái quát

Quốc kỳ Algeria (wallpaper)

algeria_grunge_flag_psd_by_elhadibrahimi_meitu_1

Quốc huy Algeria

seal_of_algeria-svg

Vị trí của Algeria

550px-Algeria_(orthographic_projection).svg.png

Bản đồ Algeria

political-map-of-Algeria.gif

Tên đầy đủ: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Algeria

Khẩu hiệu: من الشعب و للشعب (từ nhân dân và vì nhân dân)

Quốc ca: Kassaman (Qasaman Bin-Nazilat Il-Mahiqat)

Ngôn ngữ chính thức: tiếng Arab

Thủ đô và thành phố lớn nhất: Alger

Diện tích: 2 381 741 km² (hạng 10)

Mật độ dân số: 15,9 người/km²

Quốc khánh: 5/7/1962

Algeria (tiếng Arab: الجزائر; tiếng Pháp: Algérie; tiếng Berber: Tamazight). Tên chính thức là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Algeria, là một Quốc gia tại Bắc Phi và là nước lớn nhất trên lục địa châu Phi. Nước này giáp Địa Trung Hải hướng bắc và có chung biên giới với Tunisia phía đông bắc, Libya phía đông, Niger phía đông nam, Mali và Mauritania phía tây nam, Morocco và một vài km lãnh thổ phụ thuộc Sahrawi phía tây. Theo hiến pháp, Algeria được xác định là một quốc gia Hồi giáo, Arab, Berber (Bắc Phi) và Maghreb (từ để chỉ các nước Algeria, Morocco, Libya và Tunisia). Tên gọi Algeria xuất phát từ tên thành phố thủ đô Alger và chính thức tên là al-jazā’ir trong tiếng Arab, có nghĩa là “hòn đảo”, ý chỉ bốn hòn đảo nằm ngoài khơi thành phố này trước khi chúng trở thành một phần lục địa năm 1525. Nhưng có lẽ chính xác nhất từ Alger xuất phát từ Ziriya Bani Mazghana (được các nhà địa lý thời trung cổ như al Idrisi và Yaqut al Hamawi sử dụng) để chỉ người sáng lập ra nó là vua Ziri Amazigh (thành phố của Ziri Amazigh), người thành lập thành phố Alger thời trung cổ. Tuy nhiên để giấu nguồn gốc Amazigh của tên nước Algeria đi ngược lại với chính sách quốc gia coi trọng Hồi giáo và dân tộc Arab của chính phủ Algeria, nguồn gốc Amazigh của tên gọi Algeria không được công nhận (vì tên gọi này có từ trước khi đạo Hồi xuất hiện, và lúc đó vùng này thuộc quyền kiểm soát của người theo đạo Thiên Chúa).

Diện tích Algeria khá lớn, đứng thứ 10 thế giới nhưng đa phần là sa mạc khô cằn. Nơi thuận tiện cho canh tác chỉ có vùng ven biển phía bắc dưới chân dãy Atlas, đó là những đồng bằng nhỏ hẹp không liên tục với những con sông ngắn đổ ra biển và thường xuyên bị chia cắt. Đa phần đường bờ biển là những ngọn đồi núi ăn sát biển và có rất ít bến cảng tốt. Cảng tốt chỉ có Alger và Oran. Phía nam dãy Atlas là những hồ nước mặn và cao nguyên nằm rải rác. Phần còn lại phía nam là sa mạc rộng lớn chiếm 80% diện tích, nơi rất có tiềm năng về dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản. Vùng ven biển nhờ dãy Atlas chắn gió và bão cát nên khí hậu khá giống miền nam châu Âu, đa phần cư dân cũng tập trung tại đây, phần còn lại rất nóng và khô cằn.

Quốc kỳ Algeria

Drapeau-algerie (1).jpg

Quốc kỳ Algeria (tiếng Arab: علم الجزائر; tiếng Berber: Acenyal n Dzayer) gồm hai dải bằng nhau xếp dọc màu xanh lá bên trái, trắng bên phải và hình ngôi sao cùng trăng lưỡi liềm màu đỏ ở trung tâm. Lá cờ chính thức được thông qua ngày 3/7/1962 với thiết kế gần giống quốc kỳ của Chính phủ Algeria lưu vong (1958-1962). Chỉ khác ở chỗ trăng lưỡi liềm và ngôi sao to hơn, hai dải bằng nhau thay vì dải xanh chỉ chiếm 1/3 bên trái.

Quốc kỳ Chính phủ lâm thời Cộng hòa Algeria (1958-1962)

variant_flag_of_the_gpra_1962-svg

Các nước Maghreb, Maghreb là từ để chỉ các nước Bắc Phi trừ Ai Cập

550px-maghreb_orthographic_projection-svg

Thiết kế quốc kỳ Algeria bắt nguồn từ lá cờ tiêu chuẩn của Emir (Tiểu vương) Abdel Kadir trong thế kỷ 19, gồm hai dải dọc bằng nhau màu xanh lá và trắng (xanh lá là màu mà Tiên tri Muhammad cho là tốt đẹp, cũng là màu phổ biến trên cờ các quốc gia Hồi giáo cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Còn trắng tượng trưng cho sự tinh khiết và đức tin Hồi giáo). Thiết kế này còn lấy cảm hứng từ cờ của “Nhiếp chính Algiers” từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, gồm hình trăng lưỡi liềm vàng trên nền đỏ. Do cờ Nhiếp chính Algiers và Ottoman đều có màu chủ đạo là đỏ, nên đỏ được chọn là màu của ngôi sao và trăng lưỡi liềm.

Thiết kế

553px-flag_of_algeria_construction-svg

Lịch sử

Nhiếp chính Algiers (1517-1830)

Ottoman Algeria, còn gọi là Nhiếp chính Algiers là một chư hầu của đế chế Ottoman, lãnh thổ bao gồm toàn bộ bờ biển Algeria ngày nay, đặt kinh đô tại Algiers (tức Alger – thủ đô và nguồn gốc tên nước Algeria).

Nhiếp chính Algeria được thành lập năm 1525 khi Hayreddin Barbarossa (1478-1546) chiếm được thành phố này, và trở thành vùng đất đầu tiên ở vùng Maghreb quy phục Ottoman. Hải quân Ottoman rất quan tâm tới vùng này vì đây là bàn đạp lý tưởng để tấn công tàu thuyền các nước châu Âu. Cướp biển Barbary (lấy theo tên Barbarossa) từng nhiều lần tấn công tàu Tây Ban Nha khi họ đi từ bán đảo Iberia sang các vùng đất ở Bắc Phi. Nhiếp chính Algiers từng là trung tâm cướp biển Địa Trung Hải, các thành phố ven biển là thị trường buôn bán nô lệ nhộn nhịp, nguồn cung nô lệ là những người bắt được từ các tàu châu Âu và người da đen châu Phi. Nhiếp chính Algiers chấm dứt tồn tại khi Pháp xâm lược năm 1830, và Algeria là thuộc địa của Pháp cho đến năm 1962.

Kể từ khi chiếm được Granada, thành trì cuối cùng của người Hồi giáo ở bán đảo Iberia và thống nhất Vương quốc, người Tây Ban Nha đã chinh phục rất nhiều vùng đất và của cải trên bờ biển Bắc Phi. Cùng thời gian đó, hải quân Ottoman là bá chủ ở miền đông Địa Trung Hải nên không thể nhắm mắt làm ngơ. Năm 1516, một thuyền trưởng tàu tư nhân ở vương quốc Hafsids (Tunisia ngày nay) là Oruc Reis yêu cầu Ottoman trợ giúp để tấn công vương quốc Tlemcen (bờ biển Algeria ngày nay) và đã thành công năm 1517, sau đó ông tuyên bố trung thành với Ottoman. Nhưng Oruc bị giết một năm sau đó trong một cuộc bạo loạn với người Tây Ban Nha và họ chiếm luôn Algiers, em trai ông là Hayreddin Barbarossa (còn gọi là râu đỏ) lên thay và một lần nữa yêu cầu Ottoman trợ giúp, cuối cùng thành phố cũng về tay người Hồi năm 1525.

Liên quân Ottoman - Nhiếp chính Algiers đánh bại Liên minh Thần Thánh của Charles V
năm 1538

Battle_of_Preveza_(1538).jpg

Cờ Nhiếp chính Algiers, là chư hầu của Ottoman và từng bảo trợ cướp biển Bắc Phi
cướp phá tàu thuyền các nước châu Âu

fictitious_ottoman_flag_2-svg

Cướp biển Barbary

Cái tên Barbary có lẽ lấy theo tên Barbarossa, là những cướp biển tư nhân hoặc hoạt động cho chính phủ. Chủ yếu đóng tại các cảng Alger, Tunis, Oran, Tripoli, Benghazi và Rabat. Khu vực này được người châu Âu gọi chung là “bờ biển Barbary”. Họ hoạt động ở Địa Trung Hải, Tây Phi, Đại Tây Dương thậm chí là Nam Mỹ hay Caribbean nhưng chủ yếu là Địa Trung Hải. Ngoài cướp bóc, chiếm tàu, bắt nô lệ Barbary còn đột kích vào các thị trấn và làng mạc ven biển châu Âu, chủ yếu là ở Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thậm chí ở xa như Anh, Hà Lan, Bỉ, Iceland rồi rút ngay lập tức, hệt như người Viking ngày xưa.

Cướp biển Barbary đạt đỉnh cao vào thế kỷ 16-17, đây cũng là thời hoàng kim của cướp biển vùng Tân thế giới, nhất là vùng Caribbean. Nô lệ và của cải lấy được sẽ đem về Bắc Phi hoặc Ottoman, tạo ra thị trường buôn bán nô lệ nhộn nhịp.

Đến đầu thế kỷ 19, cướp biển Barbary đã bắt từ 800 000 đến 1,25 triệu người làm nô lệ. Kể từ thế kỷ 18 các cướp biển người châu Âu đã phát triển những công nghệ mới trong kỹ thuật đóng và điều khiển tàu, khiến Barbary trở nên yếu thế.

Từ thế kỷ 19, hải quân châu Âu đã thực sự lớn mạnh để ngăn chặn nạn cướp biển. Sau hội nghị Vienna năm 1815 các cường quốc châu Âu và Mỹ đã đồng ý tiêu diệt hoàn toàn cướp biển Barbary. Từ 1801-1815 liên minh Mỹ-Thụy Điển đánh bại các hạm đội Barbary được Ottoman, Nhiếp chính Algiers và Morocco tổ chức. Năm 1827, trong lúc tức giận người cai trị Nhiếp chính Algiers là Hussein Dey lấy… bó cỏ đập vào đầu Tổng lãnh sự Pháp ở Algeria là Pierre Deval. Pháp coi đây là “hành động khiêu khích” và lấy cớ này xâm lược Algeria năm 1830, Algeria là thuộc địa của Pháp cho đến năm 1962.

Trong thời thuộc địa, người Algeria coi thời kỳ cướp biển trước đây là thời hoàng kim và hành động cướp biển là đúng đắn và hiển nhiên.Từ đó cho ra đời lá cờ với nguyên mẫu cờ tiêu chuẩn được dùng trên các tàu cướp biển từ thế kỷ 19.

Mô hình tàu cướp biển Barbary thời chưa có bánh lái, hình dưới là tàu của Hayreddin
Barbarossa

800px-barbarossa_galley_in_france_1543

Huy hiệu kỳ lạ của vùng Almunecar thuộc xứ Andalusia miền nam Tây Ban Nha, trong đó
có hình một con thuyền Barbary và ba người Hồi giáo nổi trên biển

386px-Escudo_de_Almuñécar_(Granada)_2.svg.png

Tàu Anh và Hà Lan đang "ép" một tàu Barbary và dùng pháo hạ gục, bên trái là một
tàu Ottoman treo cờ trăng lưỡi liềm

laureys_a_castro_-_a_sea_fight_with_barbary_corsairs

Một tàu Pháp bị các tàu Barbary nhỏ tấn công

800px-french_ship_under_atack_by_barbary_pirates

Hạm đội tàu Anh bắn chìm tàu Barbary

779px-Willem_van_de_Velde_de_Jonge_-_Een_actie_van_een_Engels_schip_en_schepen_van_de_Barbarijse_zeerovers.jpg

Các tàu Hà Lan chuẩn bị tham chiến chống Barbary ở Tripoli

the_dutch_in_tripoli

Năm 1804, nước Mỹ trẻ trung tham chiến chống Barbary, tàu USS Philadelphia bị đốt
cháy gần Tripoli

406px-burning_of_the_uss_philadelphia

Tàu Anh và Hà Lan đốt cháy một tàu Barbary năm 1816

Martinus_Schouman_-_Het_bombardement_van_Algiers.jpg

https://vi.wikipedia.org/wiki/Alg%C3%A9rie

https://en.wikipedia.org/wiki/Algeria

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Algeria

https://en.wikipedia.org/wiki/Ottoman_Algeria

https://en.wikipedia.org/wiki/Barbary_pirates

https://en.wikipedia.org/wiki/Barbary_slave_trade

https://en.wikipedia.org/wiki/Pierre_Deval_(diplomat)

https://en.wikipedia.org/wiki/Barbary_Wars

https://en.wikipedia.org/wiki/Almu%C3%B1%C3%A9car

Advertisements