( Polska ) Ba Lan: Đôi cánh kỵ binh

Khái quát

Quốc kỳ Ba Lan (bản wallpaper)

poland-polish-flags-red-white-394444-1920x1080.jpg

Quốc huy Ba Lan

800px-herb_polski-svg

Vị trí của Ba Lan

EU-Poland.svg.png

Bản đồ Ba Lan

Poland-political-map.gif

Tên đầy đủ: Cộng hòa Ba Lan

Khẩu hiệu: Za wolność Naszą i Waszą Bóg, Honor, Ojczyzna

Quốc ca: Mazurek Dąbrowskiego (Ba Lan không bao giờ bị khuất phục)

Ngôn ngữ chính thức: tiếng Ba Lan

Thủ đô và thành phố lớn nhất: Warszawa

Diện tích: 312 679 km² (hạng 70)

Mật độ dân số: 120 người/km² (hạng 83)

Quốc khánh: 13/9/1989

Ba Lan (tiếng Ba Lan: Polska; tiếng Anh: Poland), Quốc danh hiện tại là Cộng hòa Ba Lan (Rzeczpospolita Polska) là một quốc gia ở Đông-Trung Âu. Tiếp giáp với các nước Đức phía tây, Czech và Slovakia phía nam, Ukraine phía đông nam, Belarus phía đông, Lithuania và vùng tách rời Kaliningrad của Nga phía đông bắc. Phần lớn dân số là người Ba Lan (93,52%), ngoài ra còn có người Silesian (1,09%), người Đức (0,28%), người Belarus và Ukraine (đều 0,12%), người Romani, Lemko và Kashubian (0,9%), các dân tộc khác (4,78%). Đa phần cư dân (95%) theo Thiên Chúa giáo nhánh Công giáo Roma được truyền bá vào đây khi nhà nước Ba Lan đầu tiên được hình thành vào thế kỷ thứ 10. Lãnh thổ Ba Lan trong lịch sử có nhiều thay đổi, đường biên giới hiện nay có từ sau thế chiến thứ hai theo thỏa thuận Yalta.

Khái quát lịch sử

Quốc gia Ba Lan được thành lập từ thế kỷ thứ 10 dưới thời triều đại Piast với vị vua đầu tiên là Mieszko I, họ tiếp nhận Công giáo Roma từ đế quốc La Mã Thần Thánh phía tây làm tôn giáo chính thức. Vua Mieszko I được rửa tội năm 966 và năm 1025 con trai ông là Boleslaw Chrobry được trao vương miện bởi Đức Giáo Hoàng. Người Ba Lan cùng là dân tộc Slav với người Nga và Ukraine (chủ nhân của đế quốc Rus Kiev ở ngay phía đông Ba Lan) nhưng Rus Kiev lại theo nhánh Chính Thống giáo phương đông tiếp nhận từ Byzantine (Đông La Mã), từ đó thường hay xảy ra chiến tranh giữa hai nước. Lãnh thổ Ba Lan cùng đồng minh là Hungary bị tàn phá nặng nề khi Mông Cổ xâm lược năm 1241, nhưng Mông Cổ rút lui giữa chừng (quay về chọn người kế vị sau cái chết của Hãn Oa Khoát Đài). Ít lâu sau Hãn Nogai của Kim Trướng Hãn Quốc (kinh đô ở Sarai, gần Volgagrad ngày ngay) tiếp tục xâm lược nhưng thất bại do các thành trì Ba Lan đã rút kinh nghiệm và củng cố phòng ngự. Năm 1410, liên minh Ba Lan-Lithuania đánh bại các Hiệp sĩ Teutonic đến từ đế quốc La Mã Thần Thánh trong trận Grunwald (dc nhắc đến trong phần quốc kỳ Ukraine).

Gần cuối thế kỷ 16 dưới thời triều đại Jagiellonia, Ba Lan liên minh với Lithuania nhờ các cuộc hôn nhân chính trị và “Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania” được hình thành. Cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18, Ba Lan là một trong những nước lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất châu Âu, quân đội của họ nổi bật trên chiến trường nhờ những “kỵ binh có cánh” Husaria. Quãng thời gian này Ba Lan thường xảy ra chiến tranh với Thụy Điển, Nga, Phổ, Áo, Ottoman và người Cossacks. Năm 1791, hạ viện của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania chấp nhận Hiến pháp ngày 3 tháng 5 – hiến pháp hiện đại đầu tiên của châu Âu và thứ hai trên thế giới sau Hiến pháp Hoa Kỳ. Sau đó, quốc gia Ba Lan bị xóa tên trên bản đồ sau khi bị phân chia bởi các đế quốc láng giềng là Nga, Phổ và Áo.

Ba Lan giành lại độc lập năm 1918 sau thế chiến thứ nhất với tư cách nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai. Năm 1919, Ba Lan xâm lược Liên bang Sô Viết vừa mới thành lập và chiếm được một phần lớn Liên Xô (miền tây Ukraine và Belarus ngày nay), nhưng năm 1939 tới lượt Liên Xô và Đức xâm lược Ba Lan, Liên Xô chiếm lại các vùng đất bị mất trước đó. Liên Xô cùng Đức Quốc xã thống nhất việc chia đôi Ba Lan và không xâm lược lẫn nhau, nhưng Hitler phá vỡ thỏa thuận và xâm lược Liên Xô. Ba Lan với vị trí nằm giữa Đức và Liên Xô nên là một trong những nơi bị tàn phá nặng nề nhất trong thế chiến thứ hai, tiêu biểu là trại tập trung Auschwiz của Đức và thảm sát Katyn tháng 4 và 5 năm 1940 do Liên Xô thực hiện. Sau thế chiến Ba Lan trở thành một quốc gia vệ tinh theo chủ nghĩa Cộng sản của Liên Xô với tên gọi Cộng hòa nhân dân Ba Lan. Năm 1989 cuộc bầu cử bán tự do đầu tiên tại Ba Lan thời hậu chiến đã chấm dứt cuộc đấu tranh giành tự do của Công đoàn Đoàn Kết (Solidarność) của lãnh tụ Lech Walesa với bộ râu nổi bật. Phong trào này đánh bại những người cầm quyền cộng sản và Ba Lan trở thành viên gạch đầu tiên trong sự sụp đổ dây chuyền của khối Cộng sản Đông Âu. Nền Cộng hoà Ba Lan thứ ba hiện tại được thành lập và bản Hiến pháp mới ra đời năm 1997. Năm 1999 Ba Lan gia nhập NATO và năm 2004 tham gia vào Liên minh Châu Âu EU.

Quốc kỳ Ba Lan

246184_polska_bandera_godlo_flaga.jpg

Quốc kỳ Ba Lan gồm hai dải nằm ngang bằng nhau với màu trắng phía trên và đỏ phía dưới, hai màu này được quy định trong Hiến pháp Ba Lan như là màu sắc quốc gia (quốc sắc). Một biến thể của lá cờ với Quốc huy Ba Lan nằm giữa dải trắng phía trên cũng thường xuyên được sử dụng.

Trắng và đỏ đã được xem là Quốc sắc vào năm 1831. Nguồn gốc xuất phát từ quốc huy của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania, gồm hình đại bàng trắng trên nền đỏ của Ba Lan và hình Hiệp sĩ trắng cưỡi con ngựa màu trắng trên nền đỏ của Lithuania, dải trắng nằm phía trên vì các chủ thể (đại bàng và Hiệp sĩ) trong cả hai quốc huy này đều có màu trắng. Lá cờ hai màu trắng và đỏ chính thức được thông qua năm 1919 khi quốc gia Ba Lan vừa được tái lập sau một thời gian dài không có Tổ quốc. Pháp luật Ba Lan không hạn chế việc sử dụng lá cờ trông quá đơn giản này mà không có quốc huy, miễn là không được thiếu tôn trọng lá cờ.

Thiết kế quốc kỳ chia làm hai phần bằng nhau màu trắng và đỏ là khá phổ biến, có những lá cờ trông rất giống nhưng không liên quan gì đến người Ba Lan. Tiêu biểu như cờ Monaco và Indonesia (cùng là trên đỏ dưới trắng), cờ Malta (trắng bên trái đỏ bên phải và quốc huy nằm trên dải trắng), cờ Singapore (trên đỏ dưới trắng và hình trăng lưỡi liềm cùng 5 ngôi sao trắng trên dải đỏ), cờ Czech (trên trắng dưới đỏ và hình tam giác màu xanh dương bên trái), cờ Chile (trên trắng dưới đỏ và 1/3 bên trái dải trắng là hình vuông màu xanh dương và ngôi sao trắng). Ở Ba Lan, nhiều vùng cũng sử dụng những lá cờ dựa vào thiết kế và màu sắc của cờ Quốc gia.

Thiết kế

Tỉ lệ hình học Quốc kỳ Ba Lan (có quốc huy) và cờ hải quân Ba Lan

520px-polish_flag_with_coat_of_arms_construction_sheet-svg

640px-polish_naval_ensign_construction_sheet-svg

Lịch sử

Thời Trung Cổ

Lãnh thổ Ba Lan năm 960-992

1024px-Polska_960_-_992.svg.png

Ba Lan năm 1020

Polska1020-c.png

Nguồn gốc sớm nhất của các hiệu kỳ được sử dụng ở Ba Lan có lẽ giống với các lá cờ thường được dùng bởi đế chế La Mã, gồm một tấm vải mà bề rộng chủ yếu theo chiều dọc gắn với một thanh gỗ dài hoặc cây thương (màu sắc không rõ), nó được xem như cả biểu tượng tôn giáo và quân sự vào đầu thế kỷ thứ 10. Năm 966, với việc quốc gia Ba Lan chuyển sang Thiên Chúa giáo, các biểu tượng của đạo Thiên Chúa được thay thế và các biểu tượng cũ lại bị xem là vô đạo. Biểu tượng đại bàng bắt đầu được sử dụng từ thời vua Boleslaus II (trị vì 1076-1079) có lẽ lấy nguyên mẫu từ biểu tượng đại bàng của đế chế La Mã hoặc đế chế La Mã Thần Thánh (tiền thân của Đức và Áo) phía tây Ba Lan nơi mà họ đã tiếp nhận đạo Thiên Chúa. Biểu tượng đại bàng trắng trên nền đỏ ra đời từ thời vua Wladyslaw I (trị vì 1320-1333), về sau nó được xem là huy hiệu của vương quốc Ba Lan và là một biểu tượng của vương quyền dùng trong lễ đăng quang của vua chúa và trong các trận chiến.

Trong thời kỳ Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania, biểu ngữ của Khối thịnh vượng chung được hình thành trên cơ sở kết hợp biểu tượng quốc huy Ba Lan và quốc huy đại công quốc Lithuania. Lá cờ ban đầu chỉ đơn giản là một nền trắng và quốc huy của Khối thịnh vượng chung phía trên. Về sau, do cả Ba Lan và Lithuania đều dùng các biểu tượng màu trắng trên nền đỏ nên trắng và đỏ được xem như màu sắc chính thức. Trong suốt thế kỷ 17, các lá cờ của Ba Lan-Lithuania thường được chia thành hai, ba hoặc bốn sọc ngang màu trắng-đỏ có quốc huy phía trên, và thường sử dụng các lá cờ đuôi nheo (phần xa cán cờ nhất chia thành một tam giác vuông, hoặc nhiều hình tam giác).

Lãnh thổ Ba Lan thời Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania (1569-1795)

Rzeczpospolita.png

Cờ đại công quốc Ba Lan-Lithuania

Chorągiew_królewska_króla_Zygmunta_III_Wazy.svg.png

Quốc huy đại công quốc Ba Lan-Lithuania

606px-Coat_of_Arms_of_the_Polish-Lithuanian_Commonwealth.svg.png

Một kỵ binh có cánh Husaria mang theo biểu ngữ của vua Sigismund III Vasa (trị vì
1587-1632); gồm một thiết kế trông giống cờ Áo và những biểu tượng kết hợp quốc
huy đại bàng trắng của Ba Lan, Hiệp sĩ vung kiếm của Lithuania, ba chiếc vương
miện của Thụy Điển và sọc vàng-xanh dương của gia tộc Vasa (gia tộc của vua
Sigismund III)

800px-Great_Chorąży_of_the_Polish_Crown.jpg

Phân chia Ba Lan

Cuối thế kỷ 18, một loạt ba cuộc phân chia vào các năm 1772, 1793 và 1795 được tiến hành bởi các cường quốc láng giềng đã đặt dấu chấm hết cho Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania, quốc gia Ba Lan bị xóa tên trên bản đồ suốt 123 năm. Các đợt phân chia được tiến hành bởi đế quốc Nga, vương quốc Phổ và nhà Habsburg của đế quốc Áo, họ chia nhau vùng đất này dần dần trong quá trình xâm lược. Đợt phân chia thứ nhất được quyết định ngày 5/8/1772. 20 năm sau quân đội Nga và Phổ tiến vào Ba Lan lần nữa và đợt phân chia thứ hai tiến hành ngày 23/1/1793. Áo không tham gia vào cuộc phân chia này. Đợt phân chia thứ ba diễn ra ngày 24/10/1795 nhằm phản ứng với cuộc khởi nghĩa Kosciuszko không thành công của người Ba Lan năm trước đó. Với ba đợt phân chia này, người Ba Lan không có tổ quốc tới tận năm 1918 khi kết thúc thế chiến thứ nhất.

4 năm trước khi bị xóa tên trên bản đồ, Hạ viện Ba Lan-Lithuania thông qua bản
Hiến pháp ngày 3 tháng 5, là Hiến pháp hiện đại đầu tiên châu Âu và thứ 2 thế giới
(sau Hiến pháp Hoa Kỳ)

1280px-Konstytucja_3_Maja.jpg

Lãnh thổ Ba Lan bị đế quốc Nga, vương quốc Phổ và nhà Habsburg của Áo phân chia

Rzeczpospolita_Rozbiory_3.png

Đầu thế kỷ 19, Napoléon Bonaparte tái lập quốc gia Ba Lan dưới cái tên “Lãnh địa Warszawa”, Lãnh địa Warszawa là đồng minh của Napoléon và từng cùng với đế quốc Pháp xâm lược nước Nga. Nhưng sau khi Napoleon thua trận trong trận Waterloo lãnh thổ Ba Lan lại một lần nữa bị phân chia bởi các nước thắng trận tại hội nghị Vienna.

Thế kỷ 20

Trong thế chiến thứ nhất, tất cả các quốc gia đồng minh đều đồng ý việc khôi phục quốc gia Ba Lan trước đây (nếu Đức thua trận). Lá cờ hai màu trắng và đỏ được vẫy trong một cuộc biểu tình yêu nước ngày 3/5/1916 ở thủ đô Warszawa, nhưng lại xảy ra lỗi khi nhiều người biểu tình mang theo lá cờ với dải đỏ nằm phía trên. Ngày 1/8/1919, gần một năm sau khi quốc gia Ba Lan tái lập, lá cờ với dải trắng phía trên chính thức được công nhận là cờ quốc gia.

Trong thế chiến thứ hai, những người lính Ba Lan treo cờ Ba Lan trên những cứ điểm mà họ chiếm được của địch. Ngày 2/5/1945 sau khi chiếm Berlin, những người lính trung đoàn pháo binh số 1 Ba Lan treo cờ hai màu trắng và đỏ lên cột Chiến thắng ở Berlin.

Cờ Ba Lan trong thời kỳ Cộng sản (1945-1989) là không thay đổi, nhưng lại bị diễn giải sai ý nghĩa, như là màu đỏ tượng trưng cho Xã hội chủ nghĩa. Trong các cuộc bạo loạn đẫm máu năm 1956 tại Poznan và 1970 tại Gdynia, người biểu tình đã dùng những lá cờ màu trắng trơn và nhuộm máu đỏ phía dưới tạo thành quốc kỳ Ba Lan.

Đôi cánh kỵ binh

Có lẽ cho đến lúc cuối đời, hoàng đế Mehmed IV của Đế chế Ottoman vẫn không thể hiểu vì sao quân lực đông tới gấp hàng chục lần của ông ta lại có thể bị những “kỵ binh có cánh” xé nát như người ta xé giấy như vậy.

Kỵ binh Husaria - niềm tự hào dân tộc của Ba Lan

Gniew_Husaria02.jpg

“Những tiếng va chạm khủng khiếp vang lên, ngỡ như núi đổ, kế đến là những tiếng vang của kim loại như thể hàng nghìn người thợ rèn đang cùng đập trên đe. Chúng tôi nhìn lại một lần nữa – lạy Chúa tôi – những người lính cứ lần lượt ngã xuống và bị nghiền nát như thể cánh đồng lúa mạch bị cơn bão tàn phá vậy, và rồi họ… những kỵ binh có cánh Husaria đã bỏ đi xa cùng ngọn giáo trên vai”.

Đó là những gì Henryk Sienkiewicz – tiểu thuyết gia lừng danh của Ba Lan mô tả về binh đoàn Husaria – những kỵ binh có cánh của đất nước Ba Lan. Đó cũng là những hình ảnh cuối cùng mà hàng chục nghìn quân Thụy Điển, Cozak (Cô-dắc) và Thổ Nhĩ Kỳ nhìn thấy trước khi nằm xuống vĩnh viễn. Vào khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, đôi cánh của các Husaria là nỗi kinh hoàng trên chiến trường và là niềm tự hào bất diệt của cả đất nước Ba Lan.

Nổi bật nhất chiến trường

Nếu nói về độ “hoành tráng” về mặt trang phục thời cổ, ắt hẳn các Husaria của Ba Lan sẽ nằm trong danh sách những chiến binh ăn mặc đẹp nhất. Bộ giáp của họ không chỉ là một thứ để bảo vệ cơ thể khỏi tên, súng đạn và kiếm giáo mà còn là một tác phẩm nghệ thuật thực sự.

Hiếm có đội quân nào trên thế giới có thể trang bị cho quân đội của mình một bộ giáp đẹp và nghệ thuật đến vậy. Bộ giáp của các Husaria không chỉ dày hơn so với giáp bình thường (dày 3,5 – 10mm tùy từng đoạn trong khi bộ giáp của hiệp sĩ các nước thời đó chỉ dày từ 2 – 3mm) mà còn đặc biệt hơn ở chỗ – nó có cánh.

Tuy nhiên đôi cánh được làm từ đoạn thép uốn cong có gắn lông ngỗng hoặc lông chim đại bàng này không hề có tác dụng bảo vệ họ khỏi đao kiếm hay súng đạn. Vậy họ đeo đôi cánh tưởng chừng như vướng víu trên chiến trường sinh tử như vậy để làm gì?

Nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích cho vấn đề này. Có thể với đôi cánh đặc biệt được làm từ lông chim, các khinh kỵ binh Husaria khi di chuyển sẽ tạo nên nhiều âm thanh như tiếng gió rít khiến cho kẻ thù khiếp sợ.

Mặc dù vậy, những chuyên gia về chiến tranh cho rằng, điều này là phi lý bởi bạn khó có thể nghe thấy tiếng gió rít khi xung quanh toàn tiếng súng nổ, đại bác hay tiếng gào thét.

Giả thuyết khác chỉ ra, cái làm nên sự đáng sợ của Husaria là tấm da báo đốm đeo trên cổ các chiến binh. Chúng sẽ khiến cho ngựa của phe địch hoảng sợ vì khứu giác của ngựa thính ngang với loài chó, nếu không được rèn luyện quen như ngựa Ba Lan, chúng sẽ dễ dàng bị mùi của loài báo làm hoảng sợ.

Theo một số nhà sử gia, với đôi cánh đặc biệt lớn như vậy, trông các Husaria như thể những người khổng lồ trên chiến trường, và tất nhiên, nó sẽ khiến kẻ thù khiếp sợ. Nhưng đôi cánh này chỉ phát huy tác dụng trong thời tiết đẹp, nếu thời tiết ẩm ướt hoặc gió lớn, chúng sẽ trở nên khó chịu cho chính những người mang nó.

Bên cạnh đó, cũng có nguồn thông tin cho rằng, đôi cánh này giúp các Husaria không bị quân Tartar hạ gục bằng tuyệt chiêu quăng dây thòng lọng.

31a9624-1024x682

Đội quân “bất khả chiến bại” đúng nghĩa

Đôi cánh của các kỵ binh Ba Lan tuy đẹp là vậy, bộ áo giáp cũng dày như thế nhưng đó không phải là yếu tố chính giúp họ trở thành huyền thoại trên chiến trường suốt 2 thế kỷ.

Vào thế kỷ thứ XVIII, một trong những nhà cầm quân vĩ đại nhất thế giới – nguyên soái Aleksandr V.Suvorov của Nga đã phát triển nghệ thuật của kỵ binh lên mức cao nhất, được gọi là học thuyết “tấn công xuyên”.

Thay vì sử dụng kỵ binh lao thẳng vào đội hình địch để đấu kiếm hay sử dụng giáo phá vỡ hàng ngũ địch, Suvorov yêu cầu kỵ binh của mình phải chạy xuyên qua đội hình địch, xé nát hàng ngũ của chúng. Học thuyết này khắc nghiệt đến nỗi cho đến khi có sự xuất hiện của hiệu ứng kỹ xảo máy tính, bộ phim “Lord of the Rings” (Chúa tể những chiếc nhẫn) mới có thể hiện chính xác thuyết “tấn công xuyên”.

Khi Suvorov luyện tập với quân đội của mình, mặc dù đã áp dụng các biện pháp an toàn như lúc kỵ binh sắp đến gần, bộ binh phải bước sang bên phải nhưng thỉnh thoảng vẫn có người chết do va chạm với kỵ binh.

Chiến tranh thời Trung Cổ cho tới Phục Hưng không có nhiều sự sáng tạo. Bộ binh sử dụng giáo sẽ phải cố ngăn chặn kỵ binh lao vào đội súng trường và súng hỏa mai ở đằng sau.

Tất nhiên, kỵ binh không thể nào đấu lại bộ binh dùng giáo dài được, tạo thời gian cho hỏa lực tầm xa hạ gục những người lính không may mắn. Người Ba Lan đã sáng tạo ra một phương thức rất đơn giản: chạy xuyên qua đội hình bộ binh sử dụng giáo để chọc thẳng vào đội hình súng đằng sau.

Để thực hiện được điều đó, các Husaria sử dụng một loại giáo cực dài (gần 6m) được gọi là Koipa. Loại giáo này nhỏ hơn rất nhiều so với giáo của các kỵ sĩ giáp sắt thuộc các nước châu Âu khác. Nó nhỏ đến mức khi va chạm có thể dễ dàng gãy làm nhiều phần và do đó, chỉ sử dụng được một lần.

Tuy nhiên, một lần cũng là quá đủ, với tác động của loại giáo siêu dài này, các kỵ binh Husaria sẽ đâm thẳng vào lực lượng bộ binh trước khi bị giáo của đối phương đâm phải. Lực tác động lớn đến nỗi bộ binh sẽ bị đẩy lui về hàng sau, tạo nên sự hỗn loạn cho cả đội hình.

Tại trận Kircholm năm 1605, 11.000 bộ binh xếp đội hình giáo dài và súng trường cổ điển của quân Thụy Điển đã thất trận hoàn toàn sau khi đối đầu với kỵ binh Ba Lan, chỉ bao gồm có 1.900 người. Thiệt hại của quân Ba Lan chỉ là chưa tới 100 người trong khi 6.000 bộ binh Thụy Điển bỏ mạng tại chiến trường.

Trong suốt 2 thế kỷ, mỗi khi kỵ binh Husaria tham gia chiến trường, kẻ địch chỉ có 2 sự lựa chọn: “Ở lại chiến đấu và chết” hoặc “chạy và chết”. Đội kỵ binh Husaria chưa bao giờ thua trận khi tấn công trên địa hình bằng phẳng.

Trận đấu nổi tiếng nhất của đội kỵ binh Ba Lan là trận chiến năm 1683 nơi 3.000 kỵ binh Husaria giải cứu thủ đô nước Áo Vienna khỏi sự bao vây của 200.000 quân Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ). Có lẽ cho đến lúc cuối đời, hoàng đế Mehmed IV của Đế chế Ottoman vẫn không thể hiểu vì sao quân lực đông tới hàng chục lần của ông ta lại có thể bị những “kỵ binh có cánh” xé nát như người ta xé giấy như vậy.

Với những chiến tích của mình, các Husaria được liệt vào danh sách 10 đội kỵ binh mạnh nhất trong lịch sử thế giới, ngang ngửa với kỵ binh Mông Cổ hay lực lượng Mamluk.

 

https://www.artstation.com/artist/jakubrozalski

http://jakubrozalski.artstation.com/

Poland 1920 - Jakub Rozalski artist

jakub-rozalski-digital-painting13

jakub-rozalski-digital-painting5.jpg

jakub-rozalski-digital-painting6.jpg

jakub-rozalski-digital-painting1.jpg

 

https://en.wikipedia.org/wiki/Poland

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Poland

https://en.wikipedia.org/wiki/Name_of_Poland

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ba_Lan

http://reds.vn/index.php/lich-su/ho-so-tu-lieu/10084-suc-manh-huy-diet-cua-ky-binh-husaria-ba-lan

https://en.wikipedia.org/wiki/Partitions_of_Poland

https://en.wikipedia.org/wiki/Polish%E2%80%93Lithuanian_Commonwealth

Advertisements