( Türkiye ) Thổ Nhĩ Kỳ: Trăng lưỡi liềm

Khái quát

Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ (wallpaper)

maxresdefault (1)0.jpg

Quốc huy Thổ Nhĩ Kỳ

turkishemblem-svg

Vị trí Thổ Nhĩ Kỳ

Turkey_(orthographic_projection).svg.png

Bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ

political-map-of-Turkey.gif

Tên đầy đủ: Türkiye Cumhuriyeti (Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ)

Khẩu hiệu: Egemenlik, kayıtsız şartsız Milletindir (chủ quyền vô điều kiện thuộc về Quốc gia).

Quốc ca: istiklal marşı

Ngôn ngữ chính thức: tiếng Thổ Nhĩ Kỳ

Thủ đô: Ankara; thành phố lớn nhất: Istanbul

Diện tích: 780 580 km² (hạng 36)

Mật độ dân số: 101 người/km² (hạng 107)

Quốc khánh: 29/10/1923

Thổ Nhĩ Kỳ (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Türkiye; tiếng Anh: Turkey), tên chính thức là nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Türkiye Cumhuriyetilà một quốc gia cộng hòa nghị viện xuyên lục địa, phần lớn nằm tại Tây Á và một phần nằm tại Đông Nam Âu. Thổ Nhĩ Kỳ có biên giới với 8 quốc gia: Bulgaria phía tây bắc; Hy Lạp phía tây; Gruzia phía đông bắc; Armenia, Iran và vùng tách rời Nakhchivan của Azerbaijan phía đông; và Iraq cùng Syria phía đông nam. Địa Trung Hải phía nam; biển Aegea phía tây và biển Đen phía bắc. Biển Marmara cùng các eo biển Bosphorus và Dardanelles phân ranh giới giữa vùng Thrace và bán đảo Anatolia, và cũng phân chia châu Âu và châu Á. Vị trí nằm tại nơi giao cắt giữa châu Âu và châu Á, biển Đen và Địa Trung Hải khiến Thổ Nhĩ Kỳ có tầm quan trọng địa chiến lược đáng kể.

Lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ có người cư trú từ thời đại đồ đá cũ. Sau khi Alexandros đại đế chinh phục, khu vực bị Hy Lạp hóa, quá trình này tiếp tục dưới sự cai trị của đế chế La Mã rồi tiếp theo là Byzantine (Đông La Mã). Người Thổ Seljuk bắt đầu di cư đến khu vực vào thế kỷ 11, khởi đầu quá trình Thổ Nhĩ Kỳ hóa. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 13, đế quốc Ottoman do Osman I thành lập năm 1299 đã thống nhất bán đảo Anatolia và thiết lập một đế quốc bao gồm nhiều lãnh thổ tại Đông Nam Âu, Tây Á và Bắc Phi, trở thành một cường quốc quan trọng tại Âu-Á và châu Phi trong thời kỳ đầu hiện đại. Ottoman chiếm được Constantinople – kinh đô của Byzantine vào năm 1453 dưới thời Sultan Mehmed II, chấm dứt luôn đế chế La Mã ngàn năm lịch sử đồng thời đổi tên thành phố thành Istanbul (thành phố của đạo Hồi). Đế quốc đạt đỉnh cao quyền lực trong thế kỷ 15-17, đặc biệt là dưới thời Sultan Suileman I. Vào thế kỷ 19, Ottoman suy yếu trầm trọng và được mệnh danh là “ông già ốm yếu của châu Âu”. Các cải cách Tanzimat trong thế kỷ 19 nhằm hiện đại hóa Ottoman là không đủ, và thất bại trong việc ngăn chặn đế quốc tan rã. Ottoman tham gia thế chiến thứ nhất trong liên minh Trung Tâm của Đức và Áo-Hung và cuối cùng thất bại. Chiến tranh giành độc lập của Thổ Nhĩ Kỳ do Mustafa Kemal Ataturk và các cộng sự của ông đề xướng tại Anatolia dẫn đến việc Sultan Mehmed VI thoái vị, nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại thành lập vào năm 1923, với Atatürk là tổng thống đầu tiên.

Thổ Nhĩ Kỳ là một nước cộng hòa dân chủ, thế tục, đơn nhất, và lập hiến với một di sản văn hóa đa dạng. Thủ đô là Ankara và thành phố lớn nhất là Istanbul. Ngôn ngữ chính thức của quốc gia là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đây là ngôn ngữ tự nhiên của xấp xỉ 85% cư dân. 70-80% dân số thuộc dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ; phần còn lại gồm các dân tộc thiểu số như người Kurd và người Arab. Đại đa số cư dân là tín đồ Hồi giáo. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Thổ Nhĩ Kỳ tích cực thúc đẩy quan hệ với các nước cộng hòa Trung Á vốn có chung nguồn gốc dân tộc Turkic. Kinh tế tăng trưởng và các sáng kiến ngoại giao của Thổ Nhĩ Kỳ khiến quốc gia này được xem là một cường quốc khu vực.

Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ

PB3973676@A-Palestinian-girl-ho2

Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Türk bayrağı, nghĩa là “cờ Thổ Nhĩ Kỳ”) gồm một nền đỏ và ngôi sao cùng trăng lưỡi liềm màu trắng. Nó còn được gọi là al Bayrak (cờ đỏ) hoặc al Sancak (biểu ngữ màu đỏ) trong bài Quốc ca Thổ Nhĩ Kỳ.

Thiết kế hiện tại của quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ có nguồn gốc trực tiếp từ cuối thời kỳ đế chế Ottoman, được thông qua vào cuối thế kỷ 18 và hoàn thiện hình thức cuối cùng vào năm 1844.

Các tỉ lệ hình học và sắc độ chính xác của màu đỏ đã được chuẩn hóa về mặt pháp lý trong “luật quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ” ngày 29/5/1936.

Thiết kế

1280px-turkey_flag_construction-svg

G = chiều rộng = 2/3 L

L = chiều dài

A = khoảng cách giữa trung tâm trăng lưỡi liềm và mép trái (1/2 G)

B = đường kính vòng tròn bên ngoài trăng lưỡi liềm (1/2 G)

C = khoảng cách giữa trung tâm vòng tròn bên trong và bên ngoài trăng lưỡi liềm (1/16 G)

D = đường kính vòng tròn bên trong trăng lưỡi liềm (2/5 G)

E = khoảng cách giữa mép trái vòng tròn bên trong trăng lưỡi liềm và vòng tròn ngôi sao (1/3 G)

F = đường kính vòng tròn xung quanh ngôi sao (1/4 G)

M = chiều rộng đường viền trắng ở mép trái (1/30 G).

tumblr_n8le4lv7kx1rt97xwo1_500

Lịch sử

Thiết kế ngôi sao và trăng lưỡi liềm lần đầu xuất hiện trên quốc kỳ Ottoman vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Sự ra đời của ngôi sao và trăng lưỡi liềm trắng trên nền đỏ xuất hiện vào cải cách Tanzimat năm 1844.

Quốc kỳ Ottoman

Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ lấy nguyên mẫu từ quốc kỳ Ottoman

Ottoman_flag.svg.png

Trong lịch sử, đế chế Ottoman sử dụng nhiều cờ, đặc biệt là cờ hải quân. Ngôi sao và trăng lưỡi liềm bắt đầu được sử dụng vào nửa cuối thế kỷ 18. Một Buyruldu (nghị định) năm 1793 yêu cầu các tàu hải quân Ottoman đều phải sử dụng lá cờ này. Năm 1844, một phiên bản của cờ hải quân đã được chính thức thông qua như là lá cờ quốc gia. Quyết định sử dụng lá cờ quốc gia là một phần của cải cách Tanzimat nhằm mục tiêu hiện đại hóa nhà nước Ottoman để sánh ngang với các cường quốc châu Âu, cũng tương tự như Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản.

Ngôi sao và trăng lưỡi liềm đã trở thành một thiết kế quen thuộc trong những lá cờ quốc gia của Ottoman trong thế kỷ 20. Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại rất giống với cờ Ottoman vào thời kỳ muộn, chỉ khác ở chỗ biểu tượng ngôi sao và trăng lưỡi liềm nhỏ và mỏng hơn, lưỡi liềm vươn dài hơn. Cụ thể, quy định pháp luật (liên quan đến tỷ lệ hình học và sắc độ chính xác của màu đỏ) đã được giới thiệu với “Luật Quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ” vào ngày 29/5/1936.

Trong Quốc huy đế chế Ottoman có thể thấy hai lá cờ với màu xanh lá và đỏ, phía đầu cán cờ là hình trăng lưỡi liềm. Thời chưa có hiệu kỳ người Ottoman hoặc các dân tộc Turkic nói chung thường gắn hình trăng lưỡi liềm lên đầu thương hoặc thanh gỗ dài và xem nó như hiệu kỳ mà không cần tấm vải. Trăng lưỡi liềm đã là biểu tượng truyền thống của các dân tộc Turkic từ trước khi đạo Hồi xuất hiện, và biểu tượng này thường được gắn lên phần chóp nhọn củ hành của các Thánh đường Hồi giáo khi họ tiếp nhận đạo Hồi. Dần dà trăng lưỡi liềm và ngôi sao (ở đây là sao Kim – Venus) trở thành biểu tượng chung của tất cả các dân tộc Turkic.

Nói tới người Turkic Trung Á là phải nói tới con đường tơ lụa và văn hóa du mục. Các kiểu phối màu xanh da trời và vàng hoặc trắng; đỏ và xanh lá, trắng hoặc xanh da trời được xem là màu truyền thống của người Turk và có thể thấy rộng rãi trên quốc kỳ của họ ngày nay. Người Turk nhánh phía tây (người Thổ Nhĩ Kỳ) thường dùng kiểu phối màu đỏ – trắng và xem xanh da trời hoặc xanh lá là màu sắc phụ. Từ thời đế chế Seljuk (người Thổ Nhĩ Kỳ thời Ottoman chưa thành lập), hiệu kỳ được sử dụng thường có các biểu tượng trăng lưỡi liềm hoặc Tughra (thư pháp Hồi giáo) màu trắng, xanh lá hoặc xanh da trời trên nền đỏ, từ đó đỏ được xem là Quốc sắc của người Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngày nay các Quốc gia độc lập của người Turkic gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và phần nào đó là Tajikistan, Afghanistan và Mông Cổ. Các biểu tượng truyền thống của họ gồm ngôi sao và trăng lưỡi liềm, bầu trời xanh, lều Yurt, thảo nguyên, ngựa, sói và đại bàng.

Lãnh thổ rộng lớn của đế chế Seljuk (1037-1194) - nhà nước đầu tiên của người Thổ Nhĩ Kỳ,
kinh đô ở Isfahan (Iran ngày nay). Seljuk với chiến thắng trước Byzantine trong trận
Manzikert năm 1071 là nguyên nhân gây ra Thập tự chinh thứ nhất. Lãnh thổ Seljuk là khá
rộng nhưng ngày nay nhắc đến lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ hầu như chỉ nhớ đến Ottoman, Seljuk
đã bị lãng quên

seljuk_empire_locator_map-svg

Hồi quốc Rum (1077-1308), thành lập trên bán đảo Anatolia khi Seljuk đã suy tàn.
Là tiền thân của Ottoman

1280px-seljuk_sultanate_of_rum_1190_locator_map-svg

Lãnh thổ Hãn quốc Y Nhi (1256-1353), nhà nước theo đạo Hồi do người Mông Cổ thành lập

ilkhanate_in_1256-1353

Tughra - hiểu đơn giản là thư pháp Hồi giáo hoặc con dấu, chữ ký của Quốc vương;
cũng gần tương tự như thư pháp của người Á Đông. Người Hồi giáo rất thích Tughra
vì vẻ đẹp của nó

tughra_mahmud_ii_bw

Tên vị Caliph chính thống thứ hai Umar (Omar bin Khattab) viết theo kiểu thư pháp
Hồi giáo ở Thánh đường Sofia. Người Hồi giáo cấm kỵ tôn thờ ảnh tượng nên chỉ có thể
hướng lời cầu nguyện của mình về chữ viết, kinh Qur'an hoặc không gì cả... chỉ cần
quay mặt về hướng Mecca

20131203_Istanbul_118

 Quốc huy đế chế Ottoman

800px-Osmanli-nisani.svg.png

Quân đội Ottoman hành quân qua Sofia trong chiến tranh với Áo năm 1788. Biểu ngữ
được sử dụng là một trăng lưỡi liềm và ba ngôi sao tám cánh màu vàng trên nền đỏ.
Trăng lưỡi liềm hướng về phía cán cờ, tức ngược với cờ quốc gia sau này

TurkischeHauptArmeeHochenleitterBGHistory.jpg

Trận vây thành Vienna năm 1683, có thể thấy những lá cờ đằng xa

Vienna_Battle_1683.jpg

Quân Ottoman ra trận với cờ trăng lưỡi liềm

walka_o_sztandar_turecki

Biểu tượng Hồi giáo?

Cờ một số quốc gia Hồi giáo

flags_panel_1

Mặt trăng lưỡi liềm và ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện trên quốc kỳ của các quốc gia Hồi giáo nên nhiều người tin rằng đây là biểu tượng của đạo Hồi. Thật ra, biểu tượng này không liên quan gì đến đạo Hồi mà nó có nguồn gốc từ rất xa xưa, từ thời người Thổ Nhĩ Kỳ cổ đại ở vùng Trung Á. Họ đã bắt đầu thờ phụng vị thần Bầu trời tối cao Tengri và các vị thần mặt trời, mặt trăng khi họ còn du mục trên lưng ngựa qua các vùng Trung Á, Tây Á và Siberia. Trăng lưỡi liềm tượng trưng cho thần mặt Trăng Ay Ata còn ngôi sao tượng trưng cho thần Mặt trời Gun Ana. Những đồng xu được tìm thấy ở các nước Kyrgyzstan và Uzbekistan có niên đại vào năm 576-600 là bằng chứng cho thấy người Thổ Nhĩ Kỳ cổ đại đã sử dụng biểu tượng này rất lâu từ trước khi đạo Hồi xuất hiện.

Trong thực tế, các cộng đồng Hồi giáo nguyên thủy từ thời Nhà tiên tri Muhammad  đã không sử dụng bất kỳ một biểu tượng nào. Các đội quân Hồi giáo chỉ sử dụng các lá cờ màu trơn (đen, trắng hoặc xanh lá) với mục đích đơn giản là để phân biệt. Biểu tượng trăng lưỡi liềm và ngôi sao chỉ xuất hiện sau này vào thời đế quốc Ottoman, chứ biểu tượng này không phải là của đạo Hồi. Việc dựng một biểu tượng sẽ làm cho người Hồi dễ đi vào tội lỗi thờ cúng hình tượng cho nên điều này là tuyệt đối phải tránh. Đa số người Hồi giáo ý thức được việc này, họ phản đối việc dùng biểu tượng.Tuy nhiên, trong hàng trăm năm, Đế chế Ottoman đã thống trị thế giới Hồi giáo và qua hàng thế kỷ chiến đấu với cây Thánh giá của Thiên chúa giáo, biểu tượng trăng lưỡi liềm đã trở nên gắn liền với đạo Hồi và xuất hiện rất nhiều trên quốc kỳ của các quốc gia theo đạo Hồi để đối lập với biểu tượng chữ thập của các nước Thiên Chúa giáo. Trăng lưỡi liềm và ngôi sao tượng trưng cho quyền năng tối cao của các bậc thánh thần, sự tốt lành và hạnh phúc.

Biểu tượng của thần mặt trăng

Năm 339 Trước Công nguyên, quân đội đế chế Macedonia hùng mạnh dưới quyền chỉ huy của Vua Phillip II (cha của Alexander Đại đế) đã nhiều lần đào đường hầm bao vây đánh Byzantium (sau gọi là Constantinople, nay là thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng đều bị đẩy lùi. Một đêm nọ, quân đội Macedonia quyết định tập trung binh lực lợi dụng đêm tối đột kích vào thành. Nhưng suốt đêm đó, trên bầu trời bỗng có một vầng trăng lưỡi liềm rực sáng khác thường, làm lộ ra sự bố trí của quân đội Macedonia nên nhân dân trong thành lại một lần nữa đẩy lùi quân địch, bảo vệ được thành trì. Người ta cho rằng, vầng trăng đó chói sáng là bởi được nữ thần Mặt trăng Diana (thường được tạo hình là một thiếu nữ xinh đẹp với vầng trăng lưỡi liềm cài trên mái tóc hay vầm trên tay một chiếc liềm tượng trưng cho vầng trăng khuyết) trợ giúp. Để bày tỏ lòng biết ơn của mình, nhân dân Byzantium đã lấy hình trăng lưỡi liềm làm biểu tượng cho thành phố.

Nữ thần Diana (trong tiếng La Mã có nghĩa là ‘trên trời’ hoặc ‘thiên thần’) là một nữ thần trong thần thoại La Mã, Diana là nữ thần săn bắn đồng thời là nữ thần Mặt Trăng và tượng trưng cho sự sinh sản. Diana thường được cho là bản sao của nữ thần săn bắn Artemis trong thần thoại Hy Lạp. Nữ thần này thường xuất hiện cùng các loài động vật hoang dã và trong các khu rừng, nàng có sức mạnh siêu nhiên, có thể nói chuyện với các loài động vật và kiểm soát chúng. Diana cùng với Minerva (nữ thần trí tuệ Athena) và Vesta (nữ thần lửa Hestia) được biết đến như những nữ thần đồng trinh, những người đã thề không bao giờ kết hôn và là một trong biểu tượng của phụ nữ. Khi thành phố đổi tên thành Constantinople và cải đạo theo Thiên Chúa giáo vào năm 330, trăng lưỡi liềm trở thành biểu tượng khác của sự trong trắng là Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.

Thành Constantinople về đêm

constantinople_by_snikola-d71dfvr.jpg

Trở thành biểu tượng của đế chế

Vào thời kỳ Đế quốc Ottoman, biểu tượng trăng lưỡi liềm một lần nữa đóng một vai trò quan trọng. Tên gọi Ottoman có nguồn gốc từ Sultan Osman I, người đã thành lập đế chế Hồi giáo Ottoman hùng mạnh vào năm 1299 với cương thổ trải dài từ Trung Đông đến một số quốc gia Đông Âu ngày nay. Trong khi các vương quốc khác của người Thổ Nhĩ Kỳ còn phải bận tâm với các mâu thuẫn nội bộ, Osman đã có thể mở rộng biên giới của khu định cư Ottoman về phía rìa của Đế quốc Byzantine. Danh tiếng của ông cũng được đánh bóng trong câu chuyện thời Trung đại của người Thổ Nhĩ Kỳ, được biết dưới tên gọi ‘Giấc mơ của Osman’.

Theo truyền thuyết, một đêm nọ Osman I đã nằm chiêm bao thấy một vầng trăng lưỡi liềm đi qua bầu trời từ Đông sang Tây chiếu sáng khắp trần gian. Cho rằng đây là điềm lành báo rằng đế quốc do ông tạo dựng sẽ trở thành một đế chế vĩ đại, ông bèn dùng trăng lưỡi liềm làm biểu tượng của đế quốc Ottoman, đồng thời cũng mang biểu tượng này chế định làm quốc kỳ của vương quốc.

Đến năm 1453, Sultan Mehmed II chinh phục được thành Constantinople, sáp nhập hai vùng châu Âu và châu Á của đế quốc đồng thời chấm dứt luôn đế chế La Mã ngàn năm lịch sử. Mehmed II còn cải tiến sức mạnh quân sự bằng cách trang bị thêm súng cầm tay và các loại súng lớn, tạo hệ thống quản lý cho thể chế của 1 nhà nước Ottoman phát triển. Trăng lưỡi liềm trở thành biểu tượng của Ottoman, cùng đội quân xâm lược của họ đi chinh phục khắp nơi. Ở thời kỳ đỉnh cao, Đế chế Ottoman trải dài trên 3 châu lục và gồm nhiều nền văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ.

Sultan Mehmed II cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào Constantinople năm 1453

Zonaro_GatesofConst.jpg

Cương thổ Ottoman năm 1683, năm họ thất bại trong trận vây thành Vienna

OttomanEmpireIn1683.png

Ngôi sao 5 cánh được thêm vào từ thời Sultan Selim III vào năm 1793, ngôi sao 5 cánh được xác lập vào thời kỳ cải cách Tanzimat năm 1844 và có tài liệu cho rằng đó là hình ảnh biểu thị sự kết hợp giữa Mặt trăng và sao Kim, thời điểm mà người Babylon cổ đại tin rằng đó là lúc họ hiểu được những thông điệp mà các thánh thần truyền tới họ.

Vầng trăng lưỡi liềm và ngôi sao trên quốc kỳ ngày nay của Thổ Nhĩ Kỳ mang ý nghĩa đất nước này kế thừa các truyền thống và sức mạnh của đế quốc Ottoman thuở xưa. Một số quốc gia theo đạo Hồi khác cũng sử dụng hình ảnh mặt trăng lưỡi liềm và ngôi sao làm biểu tượng quốc gia của mình.

Ngày nay

Cờ Thổ Nhĩ Kỳ treo trong Thánh đường Sofia ở Istanbul

tumblr_o0nf6pGZqv1u14xjuo1_500.jpg

Ngày nay, Thổ Nhĩ Kỳ gặp nhiều thách thức liên quan đến vấn đề khủng bố Hồi giáo cực đoan, người nhập cư từ các nước Trung Đông và tình hình chính trị bất ổn… Trong hoàn cảnh đó quốc kỳ Thổ Nhĩ Kỳ trở nên nổi bật như một cách để nói lên lòng tự tôn dân tộc, sức mạnh cùng sự đoàn kết của Quốc gia.

 

Thổ Nhĩ Kỳ: Mặt trăng lưỡi liềm

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%95_Nh%C4%A9_K%E1%BB%B3

https://en.wikipedia.org/wiki/Turkey

https://en.wikipedia.org/wiki/Flag_of_Turkey

https://en.wikipedia.org/wiki/Flags_of_the_Ottoman_Empire

https://en.wikipedia.org/wiki/Ottoman_Empire

https://en.wikipedia.org/wiki/Tughra

https://en.wikipedia.org/wiki/Seljuk_Empire

https://en.wikipedia.org/wiki/Sultanate_of_Rum

https://en.wikipedia.org/wiki/Ilkhanate

Advertisements